TP THÁI NGUYÊN

LogoTN

I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.1. Vị trí địa lý

Thành phố Thái Nguyên nằm ở trung tâm tỉnh Thái Nguyên. Có toạ độ địa lý từ 210 đến 22027 vĩ độ Bắc và 105025’ đến 106014’ kinh độ Đông, nằm cách trung tâm Hà Nội 80 km về phía Bắc, có vị trí tiếp giáp như sau:

Phía Bắc giáp huyện Đại Từ, huyện Phú Lương, huyện Đồng Hỷ;

Phía Nam giáp thị xã Sông Công;

Phía Tây giáp huyện Đại Từ;

Phía Đông giáp huyện Phú Bình.

TP.nv

Bản đồ hành chính TP. Thái Nguyên

Thành phố có vị trí chiến lược, quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc. Là trung tâm giao lưu văn hoá của vùng Việt Bắc, là đầu mối giao thông trực tiếp liên hệ giữa các tỉnh miền xuôi nhất là thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam: Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang. Với vị trí địa lý như trên, thành phố Thái Nguyên có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế xã hội không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai, nhất là trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và trở thành một đô thị trung tâm của khu vực trung du miền núi phía Bắc.

1.1.2. Địa hình, địa mạo

       Địa hình của thành phố Thái Nguyên được coi như miền đồng bằng riêng của tỉnh Thái Nguyên. Ruộng đất tập trung ở hai bên bờ sông Cầu và sông Công được hình thành bởi sự bồi tụ phù sa của hai con sông này. Tuy nhiên, vùng này vẫn mang tính chất, dáng dấp của địa mạo trung du với kiểu bậc thềm phù sa và bậc thang nhân tạo, thềm phù sa mới và bậc thềm pha tích (đất dốc tụ). Khu vực trung tâm thành phố tương đối bằng phẳng, địa hình còn lại chủ yếu là đồi bát úp, càng về phía Tây bắc thành phố càng có nhiều đồi núi cao.

Nhìn chung, địa hình thành phố khá đa dạng phong phú, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đô thị, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mặt khác tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp phù hợp với kinh tế trang trại kết hợp giữa đồi rừng, cây ăn quả và các loại cây công nghiệp khác như chè, các loại cây lấy gỗ.

1.1.3. Khí hậu

Thành phố Thái Nguyên mang những nét chung của khí hậu vùng Đông bắc Việt Nam, thuộc miền nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh giá ít mưa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. Do đặc điểm địa hình của vùng đã tạo cho khí hậu của thành phố có những nét riêng biệt.

Tổng số giờ nắng trung bình năm khoảng 1.617 giờ. Nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,5˚C, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm vào tháng 7 là 28,5˚C, thấp nhất nhất vào tháng 1 là 15,5˚C. Lượng mưa trung bình hàng năm 2.025,3mm. Lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian, có chênh lệnh lớn giữa mùa mưa và mùa khô. Về mùa mưa cường độ lớn, lượng mưa chiếm 87% tổng lượng mưa trong năm (từ tháng 5 đến tháng 10) trong đó, riêng lượng mưa tháng 8 chiếm đến gần 30% tổng lượng mưa cả năm nên đôi khi gây ra tình trạng lũ lụt lớn. Thành phố có độ ẩm không khí cao, độ ẩm trung bình năm là 82%. Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 gió đông nam chiếm ưu thế tuyệt đối, nóng ẩm mưa nhiều. Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3, gió đông bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít thời tiết khô hanh.

 Như vậy, khí hậu thành phố Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho phát triển ngành nông-lâm nghiệp và là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm.

1.1.4. Thuỷ văn

Trên địa bàn thành phố có sông Cầu chạy qua địa bàn, con sông này bắt nguồn từ Bắc Kạn chảy qua thành phố ở đoạn hạ lưu dài khoảng 25 km, lòng sông mở rộng từ 70 – 100m. Về mùa lũ lưu lượng đạt 3500 m­­­­³/giây, mùa kiệt 7,5 m³/giây.

 Sông Công chảy qua địa bàn thành phố 15 km, được bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá thuộc huyện Định Hoá. Lưu vực sông này nằm trong vùng mưa lớn nhất của thành phố, vào mùa lũ, lưu lượng đạt 1.880 m³/giây, mùa kiệt 0,32m³/giây. Đặc biệt, trên địa bàn thành phố có Hồ Núi Cốc (nhân tạo) trên trung lưu sông Công, có khả năng trữ nước vào mùa mưa lũ và điều tiết cho mùa khô hạn.

1.2. Các nguồn tài nguyên

1.2.1. Tài nguyên đất

Theo kết quả tổng hợp trên bản đồ thổ nhưỡng năm 2005 tỉnh Thái Nguyên tỷ lệ 1:50.000 cho thấy thành phố có các loại đất chính sau:

–             Đất phù sa: diện tích là 3.623,38 ha chiếm 20,46% tổng diện tích tự nhiên. Loại đất này rất thích hợp trồng lúa và hoa mầu.

–             Đất bạc màu: diện tích là 1.147,88 ha chiếm 6,48% tổng diện tích tự nhiên, trong đó gồm có đất: Bạc màu phát triển trên phù sa cổ có sản phẩm feralitic trên nền cơ giới nặng, nhẹ, trung bình và đất dốc tụ bạc màu có sản phẩm feralit thích hợp với trồng lúa – màu, cây công nghiệp ngắn ngày.

–            Đất xám feralit: diện tích 7.614,96 ha chiếm 43% tổng tổng diện tích tự nhiên, trong đó gồm các loại đất: đất xám feralit trên đá cát; đất xám feralit trên đá sét; đất xám feralit màu nâu vàng phát triển trên phù sa cổ. Đất này thích hợp trồng rừng, trồng chè, cây ăn quả, cây trồng hàng năm.

1.2.2. Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt trên địa bàn thành phố phân bố không đều theo các vùng lãnh thổ và theo thời gian. Lượng mưa chiếm khoảng 80% lượng nước trong năm. Hiện nay nguồn nước mặt mới chỉ cung cấp cho 85 – 90% diện tích đất canh tác.

 Nguồn nước ngầm: Nhìn chung thành phố có nguồn nước ngầm phong phú, hiện tại nhân dân đang khai thác sử dụng trong sinh hoạt dưới các hình thức là giếng khơi và giếng khoan.

1.2.3. Tài nguyên rừng

 Rừng của thành phố Thái Nguyên chủ yếu là rừng non, rừng trồng theo chương trình PAM, 327, nhìn chung trữ lượng thấp, nguồn thu từ kinh tế vườn rừng hầu như không đáng kể.

1.2.6. Tài nguyên khoáng sản

Thành phố Thái Nguyên có hai tuyến sông lớn chảy qua là sông Cầu và sông Công. Hàng năm, cung cấp cho thành phố một lượng cát sỏi xây dựng khá lớn, đủ đáp ứng nhu cầu xây dựng cho toàn thành phố. Ngoài ra, thành phố còn nằm trong vùng sinh khoáng Đông bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương có mỏ than Khánh Hoà thuộc xã Phúc Hà có trữ lượng than khá lớn.

1.2.7. Tài nguyên nhân văn

Thành phố Thái Nguyên có 28 đơn vị hành chính trong đó có 19 phường và 9 xã với số dân trên 30 vạn người. Trên địa bàn thành phố có đông đảo đội ngũ sinh viên, học sinh các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Đây là nguồn lực có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phục vụ sự nghiệp phát triển của thành phố, của tỉnh và cả nước.

1.3. Thực trạng môi trường

–       Thành phố chịu ảnh hưởng do ô nhiễm bụi và khí thải của khu công nghiệp Gang Thép, vùng ô nhiễm đã gây ảnh hưởng xấu tới các khu dân cư và sinh thái nói chung của thành phố.

–       Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ đã thải khoảng 400 m³/ngày, nước thải độc và bẩn đã gây hiện tượng ô nhiễm suối Mỏ Bạch và nguồn nước sông Cầu. Vấn đề này cần phải giải quyết tốt cả hiện tại và tương lai.

–       Ngoài ra còn phải kể đến lượng rác thải sinh hoạt, bệnh viện, trường học, rác thải sinh hoạt đã đang tạo một sức ép rất lớn đến môi trường chung của thành phố.

II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI

2.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Thành phố Thái Nguyên được xác định là một trong những trung tâm kinh tế, có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của vùng trung du miền núi phía Bắc. Trong những năm qua, thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội, thành phố đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tốc độ phát triển kinh tế năm sau cao hơn năm trước.

Thành phố đã triển khai có hiệu quả các chương trình, mục tiêu của Chính phủ và tỉnh, tạo thế và lực mới cho việc phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ năm 2010. Hệ thống văn bản pháp luật của Đảng và Nhà nước được triển khai kịp thời. Các đề án của thành phố được ban hành và thực hiện đồng bộ tạo môi trường đầu tư thông thoáng cho các thành phần kinh tế phát triển một cách bình đẳng. Thu hút được nhiều nguồn lực đầu tư, nhất là khu vực kinh tế tư nhân.

* Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu:

1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm đạt 14,6%. Cơ cấu kinh tế năm 2010: Công nghiệp 48,01%; Dịch vụ 47,37%; Nông nghiệp 4,62%. GDP bình quân đầu người đạt 30 triệu đồng/người /năm.

2. Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất nông nghiệp trồng trọt đạt 56 triệu đồng, vượt 26 triệu đồng so với chỉ tiêu đại hội; giá trị sản phẩm trên 1 ha chè, cây ăn quả đạt 72 triệu đồng.

3. Giải quyết việc làm bình quân hàng năm cho 6.020 lao động; giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 9,2% xuống còn 2,6%.

4. Giảm tỷ suất sinh thô bình quân 0,16%0

* Kết quả cụ thể:

Sự phát triển của 3 nhóm ngành kinh tế lớn và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng hiện đại cho thấy thành phố Thái Nguyên đang từng bước khai thác lợi thế của một đô thị, trung tâm kinh tế lớn của vùng Trung du miền núi Bắc bộ. Tỷ trọng của khối phi nông nghiệp tăng lên và khối nông nghiệp giảm dần. Cụ thể, tỷ trọng của khu vực phi nông nghiệp tăng từ 95,17% (năm 2006) lên 95,38% (năm 2010) trong khi tỷ trong khu vực nông nghiệp giảm tương ứng từ 5,09% (năm 2007) xuống 4,62% (năm 2010).

Bảng 1: Cơ cấu tổng sản phẩm của Thành phố Thái Nguyên

giai đoạn 2006-2010

                                                                                                  ĐVT: %

Chỉ tiêu

2006

2007

2008

2009

2010

Công nghiệp, xây dựng

50,82

49,72

48,50

47,78

48,01

Dịch vụ

44,35

45,19

45,52

46,88

47,37

Nông, Lâm và Ngư nghiệp 

  5,72

5,09

5,98

5,34

4,62

(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội

 các năm 2006 – 2010 của TPTN)

Xét theo 3 nhóm ngành kinh tế lớn, tỷ trọng của ngành công nghiệp – xây dựng tuy không ổn định qua các năm nhưng vẫn luôn đóng góp nhiều nhất cho tổng sản phẩm tỉnh. Năm 2006 chiếm 50,82%, năm 2007 chiếm 49,72%, năm 2008 chiếm 48,5%, năm 2009 chiếm 47,78% và năm 2010 là 48,01%. Tỷ trọng của ngành dịch vụ tăng lên trong giai đoạn 2006 – 2010; năm 2006 là 44,35%, năm 2007 chiếm 45,19%, năm 2008 chiếm 45,52%, năm 2009 chiếm 46,88% và năm 2010 là 47,37%. Ngành nông nghiệp tuy vẫn tăng trưởng về giá trị tuyệt đối (bình quân 6,20%/năm giai đoạn 2006-2010) nhưng tỷ trọng trong tổng sản phẩm thành phố đã giảm đi đáng kể, phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, hiện đại của cả nước cũng như vùng và tỉnh.

Năm 2010, tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GDP) đạt 3.509,8 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 1994), tăng 12,37% so với năm 2006. Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 1.000 tỷ đồng. 

Về tốc độ tăng trưởng kinh tế:

Giai đoạn 2006 – 2010 nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của thành phố là 14,6 %, cụ thể các năm thể hiện tại bảng 2:

 

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006 – 2010

ĐVT: %

Chỉ tiêu

2007

2008

2009

2010

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GDP)

15,84

16,5

12,37

14,0

Dịch vụ

17,23

18,33

14,68

14,80

Công nghiệp, xây dựng

15,64

15,9

13,22

14,02

Nông, Lâm và Ngư nghiệp

7,29

7,94

5,07

5,05

GDP (HH) bình quân đầu người (triệu đồng)

16,76

19,49

25,09

30,0

(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội

các năm 2006 – 2010 của TPTN)

Trụ sở UBND TP. Thái Nguyên

Về tình hình phát triển kinh tế – xã hội năm 2012, tổng sản phẩm trong TP. (GDP) ước đạt 4.495 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 12%. Giá trị sản xuất CN-TTCN địa phương (theo giá so sánh 1994) cả năm ước đạt 3.010 tỷ đồng, tăng 7,1 % kế hoạch tỉnh, bằng 95,5 % kế hoạch TP., tăng 14,6 % so với năm 2011. GDP bình quân đầu người đạt 42 triệu đồng/năm, bằng 100% kế hoạch (tăng 5 triệu đồng so với năm 2011).

2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

2.2.2. Khu vực kinh tế nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp ổn định và phát triển, tỷ trọng trong cơ cấu ngành có xu hướng giảm từ 5,72% năm 2006 xuống còn 4,62% năm 2010. Tỷ trọng ngành trồng trọt trong giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 52%, ngành chăn nuôi chiếm 31,5%, ngành dịch vụ chiếm 16,5%.

Đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn và ứng dụng KH-KT vào sản xuất luôn được quan tâm chỉ đạo thực hiện theo hướng nông nghiệp đô thị. Nhiều mô hình sản xuất mới như trang trại trồng chè, cây ăn quả, chăn nuôi tập trung, sản xuất chè sạch, rau an toàn, cây cảnh, hoa tươi, … được hình thành và sản xuất có hiệu quả, góp phần tạo ra diện mạo nông thôn mới, đặc biệt cây chè tiếp tục khẳng định là cây trồng có thế mạnh đem lại hiệu quả kinh tế cao. Giá trị sản phẩm trên một ha đất nông nghiệp tăng từ 25 triệu đồng năm 2005 lên 56 triệu đồng năm 2010, vượt 26 triệu đồng so với chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XV, giá trị sản phẩm trên một ha chè, cây ăn quả tăng từ 45 triệu năm 2005 lên 72 triệu/ha năm 2010, vượt 22 triệu đồng so với chỉ tiêu đề ra.

Giai đoạn 2005-2010, thành phố đã xây dựng và triển khai thực hiện đạt kết quả tốt 5 đề án về phát triển nông nghiệp.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Đã có nhiều mô hình, nhân tố mới trong nông nghiệp, nhiều trang trại chăn nuôi đã liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân.

(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội các năm 2006,2007,2008,2009, 2010 của TPTN và Văn kiện Đại hội Đảng bộ TP lần thứ XVI nhiệm kỳ 2010 – 2015)

2.2.3. Khu vực kinh tế công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố tăng nhanh trong những năm gần đây là do sự tăng trưởng đột biến của một số ngành công nghiệp như: công nghiệp chế biến, sản xuất và phân phối điện năng, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất hàng may mặc, …

Năm 2010, sản xuất CN-TTCN mặc dù gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên giá trị sản xuất CN-TTCN vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể:

–                     Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 7.500 tỷ đồng tăng 1,81 lần so với năm 2005.

–                     Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương đạt 2.700 tỷ đồng tăng 2,0 lần so với năm 2005.

Thành phố Thái Nguyên có một số khu, cụm công nghiệp lớn mang tính chất toàn quốc được Trung ương đầu tư xây dựng tại địa bàn thành phố:

–                     Cụm công nghiệp số 1, số 2 thuộc phường Tân Lập, quy mô 150 ha, tập trung các ngành luyện kim màu, sản xuất vật liệu xây dựng, …

–                     Khu công nghiệp Gang Thép: Bao gồm 11 nhà máy, xí nghiệp như: nhà máy luyện Gang, nhà máy luyện Thép Lưu Xá, nhà máy Cán thép Lưu Xá, nhà máy luyện cán thép Gia Sàng, nhà máy hợp kim sắt và các xí nghiệp trực thuộc công ty Gang Thép Thái Nguyên.

(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội các năm 2006,2007,2008,2009, 2010 của TPTN và Văn kiện Đại hội Đảng bộ TP lần thứ XVI nhiệm kỳ 2010 – 2015)

2.2.4. Khu vực kinh tế dịch vụ

Các thế mạnh về thương mại, dịch vụ, du lịch được khai thác hiệu quả, phát triển đa dạng, phong phú cả về quy mô, hình thức góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế. Các ngành dịch vụ như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục, vận tải, bưu chính viễn thông, chứng khoán được quan tâm tạo điều kiện phát triển và ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân. Văn minh thương mại được quan tâm chỉ đạo, đã hình thành hệ thống các cửa hàng tự chọn, siêu thị tổng hợp, siêu thị chuyên ngành cùng các trung tâm mua bán hàng hóa lớn được khai thác có hiệu quả. Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2010 đạt 7620,6 tỷ đồng, tăng 2,9 lần so với năm 2005.

Các hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại, du lịch được đẩy mạnh kết hợp với các hoạt động thương mại, dịch vụ truyền thông, tạo điểm nhấn và sức hút mới cho các hoạt động dịch vụ du lịch, bước đầu khai thác tốt tiềm năng của địa phương. Chất lượng dịch vụ được nâng cao, phục vụ tốt hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân. Lượng khách du lịch đến thành phố tăng bình quân 25,4%/năm, trong đó lượng khách quốc tế tăng 5,9 lần so với năm 2005.

Dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển. Tính bình quân đã có 43 thuê bao điện thoại/100 dân, tăng 120% so với năm 2005; 17.218 thuê bao Internet, chiếm 65% tổng số thuê bao Internet cả tỉnh.

Với điều kiện khí hậu và vị trí địa lý thuận lợi, Thái Nguyên là nơi hội tụ nền văn hoá của các dân tộc miền núi phía Bắc. Thái Nguyên còn được biết đến với khu du lịch nổi tiếng Hồ Núi Cốc mỗi năm thu hút hàng vạn du khách đến thăm quan và nghỉ dưỡng. Hiện Chính phủ đang có chủ trương nâng khu du lịch Hồ Núi Cốc thành khu du lịch sinh thái trọng điểm Quốc gia, nơi đây sẽ được quy hoạch bao gồm cả du lịch tâm linh với dự án xây dựng Trúc lâm Thiền Viện – đường ngầm xuyên Tam Đảo và dự án xây dựng cáp treo từ trung tâm ra đảo và Tam Đảo sẽ được khởi công xây dựng….

(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội các năm 2006,2007,2008,2009, 2010 của TPTN và Văn kiện Đại hội Đảng bộ TP lần thứ XVI nhiệm kỳ 2010 – 2015)

2.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

– Dân số

Tính đến 1/1/2010, dân số (bao gồm cả thường trú và quy đổi) toàn Thành phố là 330.707  người; trong đó, dân số nội thị là 288.077 người chiếm 77,43% tổng dân số toàn thành phố (bao gồm dân số thường trú là 201.277 người và dân số quy đổi là 86.800 người , dân số ngoại thị là 83.973 người chiếm 22,57% tổng dân số toàn thành phố (bao gồm dân số thường trú là 78.433 người và dân số quy đổi là 5.540 người);

Năm 2010 tỷ suất sinh thô giảm còn 0,16%0. Tỷ lệ tăng dân số trung bình 2,09%. Số sinh viên, học sinh, khách du lịch, lực lượng quân đội, công an, người đến tạm trú để làm việc và khám chữa bệnh đang ngày một tăng. Cụ thể, hiện có 82.097 học sinh, sinh viên nội vùng và của các vùng lân cận đang sống và học tập tại thành phố Thái Nguyên; 7.533 lượt khách thăm quan du lịch, hội nghi, hội thảo; 5.771 lao động ngoại tỉnh làm việc tại các doanh nghiệp và 91.819 lượt người đến khám chữa bệnh tại thành phố Thái Nguyên. Tỷ lệ tăng dân số toàn đô thị năm 2009 đạt 2,09% (tăng tự nhiên: 0,8%, đảm bảo chỉ tiêu quy định; tăng cơ học: 1,29%).

Tính đến 1 tháng 1 năm 2010, dân số trong độ tuổi lao động của thành phố là 189.130 người, bằng 67,61% tổng dân số toàn thành phố. Thành phố đã giải quyết việc làm cho hơn 140.700 người lao động, chiếm tỷ lệ 74,39%.

Thành phố Thái Nguyên có tốc độ phát triển đô thị hoá nhanh. Đến năm 2010, số người lao động trong khu vực nội thị là, 97.083 người, phi nông nghiệp là 104.118 người; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp là 74%.

 – Lao động

Tổng số lao động đang làm việc trong khu vực nhà nước (bao gồm trung ương, địa phương và hành chính sự nghiệp) là 37.610 người, chiếm tỷ lệ 26,73% và lao động làm việc ngoài khu vực nhà nước là 103.090 người, chiếm tỷ lệ 73,27%. Lao động qua đào tạo gồm công nhân kỹ thuật, trung cấp chuyên nghiệp, đại học, cao đẳng chiếm 55%; lao động chưa qua đào tạo chiếm 45%. Lao động có tay nghề khá phổ biến ở các ngành xây dựng, khai khoáng, sửa chữa, khí đốt… Tỷ lệ lao động thất nghiệp chiếm 4,46%

– Thu nhập:

GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 30 triệu đồng.

Với kết quả trên thành phố Thái Nguyên là một trong những địa phương có bình quân thu nhập đầu người khá cao so với cả nước. Với đà phát triển đó, trong tương lai, thành phố sẽ có những tiến bộ vượt bậc về chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội theo hướng ổn định và bền vững, xứng đáng là trung tâm của vùng Việt Bắc. Đồng thời, thành phố giữ vai trò chủ đạo là trung tâm dịch vụ và liên kết phát triển với các vùng xung quanh.

(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội các năm 2006,2007,2008,2009, 2010 của TPTN và Văn kiện Đại hội Đảng bộ TP lần thứ XVI nhiệm kỳ 2010 – 2015)

2.4. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn

* Thực trạng phát triển đô thị

Thành phố tiếp tục triển khai thực hiện theo đồ án quy hoạch chung thành phố đến năm 2020 tại Quyết định số 278/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đã mở rộng thành phố về phía Bắc thêm 2 xã Cao Ngạn và Đồng Bẩm.

Đến nay, thành phố Thái Nguyên đã và đang tập trung xây dựng và phát triển đô thị theo quy hoạch được duyệt. Kết quả đạt được như sau:

– Về cải tạo, chỉnh trang các khu chức năng cũ:

Về cải tạo, chỉnh trang các khu chức năng cũ chủ yếu tập trung ở 19 phường nội thành, quy mô khoảng 6.080,71 ha.

Các khu vực đô thị cũ (các khu ở cũ, các trung tâm hành chính, các cơ quan công sở) đã được tập trung xây dựng theo đúng quy hoạch. Nâng cấp hệ thống chiếu sáng, xây dựng đồng bộ vỉa hè, lòng đường; bảo đảm cấp nước sạch cho nhân dân.

Cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường và hình thành tuyến du lịch sinh thái. Di chuyển các xí nghiệp sản xuất ô nhiễm môi trường vào các khu công nghiệp, di dời một số công trình nghĩa trang, bãi chôn lấp chất thải rắn ra khỏi khu vực trung tâm Thành phố.

– Về quy hoạch phát triển các khu dân cư và khu đô thị mới

Trong những năm qua, thành phố tập trung các nguồn lực để hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, phát triển mạng lưới đô thị và điểm dân cư tập trung theo hướng hiện đại. Đặc biệt là các khu đô thị mới 2 bên bờ sông Cầu, sẽ là điểm nhấn để phát triển thành phố bên bờ sông đang dần trở thành hiện thực. Hiện nay, thành phố đang có chủ trương xây dựng các khu đô thị mới phường Túc Duyên; Dự án Kè chống lũ sông Cầu đang tiếp tục triển khai giai đoạn 2 kéo dài từ Túc Duyên đến đập thác Huống. Tới đây, dự án Đường Bắc Sơn, đường Minh Cầu nối đường Bắc Sơn và Khu dân cư số 1 Hoàng Văn Thụ sau khi hoàn thành sẽ tạo thêm một con đường nội thị rộng đẹp cùng một khu dân cư mới, góp phần xóa bỏ tình trạng làng trong phố; Dự án Khu đô thị Xương Rồng với tổng diện tích trên 45 ha được quy hoạch và xây dựng theo kiến trúc hiện đại, độc đáo, với 9,5 ha diện tích lòng hồ được thiết kế nằm giữa khu đô thị vừa có chức năng điều hòa sinh thái, vừa tạo cảnh quan cho khu đô thị và khu vực phía Bắc thành phố. Bao quanh hồ là khách sạn, nhà hàng, trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí, cây xanh các biệt thự đơn, biệt thự đôi, khu dân cư, …được bố trí hài hòa cùng với một kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ sẽ là điểm nhấn quan trọng, làm thay đổi diện mạo thành phố.

Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng được tập trung chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả. Đến nay, gần như toàn bộ diện tích đất nội thị đã được lập quy hoạch chi tiết xây dựng. Đối với các xã ngoại thị, trung tâm các xã đã và đang được lập quy hoạch chi tiết. Việc quản lý đầu tư xây dựng theo quy hoạch được duyệt được thực hiện tương đối tốt.

(Nguồn: Đề án đề nghị công nhận TPTN là đô thị loại I trực thuộc tỉnh TN)

TP. Thái Nguyên là địa bàn của rất nhiều dự án lớn đã và đang trong quá trình triển khai thực hiện, gồm có: các công trình phối hợp với các chủ đầu tư trên địa bàn TP (12 công trình) như dự án đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên với tổng mức đầu tư 10.004,59 tỷ đồng, dự án khu đô thị hồ Xương Rồng với tổng mức đầu tư 1019,9 tỷ đồng; các công trình có quy mô lớn do TP quản lý (5 công trình) như công trình Xây dựng trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động – Xã hội TP. với tổng mức đầu tư là 41 tỷ đồng, dự án cải tạo mở rộng bãi rác Đá mài Tân Cương với tổng mức đầu tư 23 tỷ đồng.

Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn:

Khu dân cư nông thôn của thành phố được phân bố ở 9 xã. Với phong tục, tập quán có từ lâu đời, các điểm dân cư nông thôn thường được hình thành và phát triển dọc theo các tuyến giao thông chính, gần nguồn nước, nơi có địa hình bằng phẳng, thuận tiện cho sản xuất và sinh hoạt của người dân. Hệ thống cơ hạ tầng như trụ sở UBND xã, trường học, sân thể thao, bưu điện văn hoá… tập trung chủ yếu ở trung tâm các xã.

Thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng trong khu dân cư nông thôn đang ngày càng được cải thiện đáp ứng tốt hơn nhu cầu đời sống vật chất tinh thần của người dân.

2.5. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

* Giao thông

Về giao thông đường bộ: hiện có 3 tuyến quốc lộ chạy qua thành phố (QL 3, QL1B và QL37). Tháng 11 năm 2009, thành phố đã khởi công xây dựng tuyến đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên, con đường này sẽ tạo điều kiện cho thành phố trở thành đầu mối vận chuyển hàng hoá, vật tư rất quan trọng đối với tỉnh và vùng trung du miền núi Bắc bộ. Ngoài bến xe khách hiện có, thành phố đang xây dựng Bến xe khách Trung tâm và Bến xe phía Nam, phía Bắc thành phố. Theo số liệu thống kê năm 2009, thành phố Thái Nguyên có khoảng 343 xe khách (vận chuyển hơn 5,45 triệu hành khách/ năm), xe buýt có khoảng 50 xe (vận chuyển hơn 5,4 triệu hành khách/ năm) và xe taxi có 12 hãng với khoảng 200 xe (vận chuyển khoảng 1,7 triệu hành khách/ năm). Hệ thống đường nội thị được thành phố quan tâm đầu tư xây dựng hoàn chỉnh theo quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt.

Về giao thông đường sắt: hiện có 4 sân ga, diện tích 13,3 ha, gồm: ga Thái Nguyên, ga Quan Triều, ga Lương Sơn, ga Lưu Xá và mạng lưới đường sắt nội bộ khu Gang Thép. Ga Thái Nguyên là một trong những ga vận chuyển hàng hoá và hành khách quan trọng của tuyến đường sắt Hà Nội – Thái Nguyên. Lưu lượng tàu chạy qua với một chiều đi và một chiều về hàng ngày; lưu lượng vận chuyển hành khách khoảng 150.000 khách/năm. Hệ thống đường sắt của Thái Nguyên gồm 3 tuyến chính với tổng chiều dài trên địa bàn Tỉnh là 98,55 km ( bao gồm tuyến Quan Triều – Hà Nội dài 75km, tuyến Thái Nguyên – Kép dài 57 km phục vụ vận chuyển gang thép, tuyến Quan Triều – Núi Hồng qua Đại Từ dài 39km phục vụ vận tải than). Khá thuận tiện cho việc tổ chức liên kết vận tải đường bộ, đường sắt và đường sông.

Về hệ thống cung cấp nước sạch:

Thành phố Thái Nguyên hiện có 2 nhà máy cấp nước sạch là: nhà máy nước Túc Duyên (công suất 10.000 m3/nđ, khai thác nước ngầm từ 10 giếng khoan; dây chuyền công nghệ từ giếng khoan -> dàn mưa -> bể lọc nhanh -> lắng tiếp xúc -> bể chứa -> TB2 -> mạng lưới) và nhà máy nước Tích Lương (công suất 20.000m3/nđ, lấy nước mặt từ kênh núi Cốc chảy vào hồ chứa nước có khối tích 300.000m3, từ hồ chứa nước được trạm bơm 1 đưa lên khu xử lý nước).  Tỷ lệ cấp nước sạch cho người dân nội thị đạt 95%.

Năng lượng:

Thành phố Thái Nguyên có hệ thống lưới điện 220, 110KV khá phát triển. Nguồn cung cấp điện cho thành phố hiện nay do điện lực Thái Nguyên quản lý là nguồn điện lưới quốc gia, lấy từ các tuyến Thái Nguyên – Bắc Giang; Thái Nguyên – Tuyên Quang, với hệ thống đường dây cao thế 110KV, 220KV thông qua đường hạ thế 35KV- 12KV- 6KV/380V/220V.

Nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn, công suất (2×55)MW. Lưới trung áp của thành phố đã được cải tạo nâng cấp từ lưới 6KV lên 22KV dài khoảng 129 km đi nổi dùng dây XLPE-99 áp dụng cho phía Bắc của thành phố Thái Nguyên (từ Cao Ngạn tới cầu Loàng). Lưới hạ áp 22/0,4KV đi nổi kết hợp đi trên cùng hàng cột cao thế. Hiện tại thành phố có 6 trạm trung gian (công suất 428.000KVA, trong đó có 5 trạm 110KV), 404 trạm biến áp phân phân (gồm 8 trạm 35/0,4kV, công suất 10.260 KVA và 396 trạm 22/0,4kV, công suất 151.560 KVA) và các loại đường dây trung thế (đường dây 0,4kV, đường dây 22kV, đường dây trên không, cáp ngầm…) dài 2.034,2km.

Hệ thống chiếu sáng của thành phố Thái Nguyên tương đối hoàn chỉnh, nguồn điện được cung cấp cho khoảng 146 trạm với tổng công suất 1.078W, chiếu sáng khoảng 153 tuyến đường với chiều dài 168 km và 01 công viên. Điện năng tiêu thụ toàn thành phố năm 2009 là 289.460.855 kwh.

Bưu chính viễn thông:

Cùng với sự phát triển chung của thành phố về mọi mặt kinh tế – xã hội, cơ sở hạ tầng, mạng lưới bưu chính viễn thông ngày càng được mở rộng, đưa thêm nhiều dịch vụ mới vào khai thác, chất lượng phục vụ được nâng lên, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của thành phố. Số liệu thống kê hiện nay cho thấy 100% phường, xã thuộc thành phố có điểm bưu điện; số máy điện thoại bình quân /100 người dân chiếm 92 máy/100 dân;

Các dịch vụ mới như chuyển phát bưu phẩm nhanh, chuyển tiền nhanh, fax, internet… đã tăng nhịp độ phát triển. Dịch vụ tiết kiệm bưu điện đã được đưa vào khai thác tại bưu điện thành phố để cùng các dịch vụ đại lý phân phối, bưu chính uỷ thác…tạo ra hướng phát triển mới cho ngành thông tin liên lạc trên địa bàn thành phố.

Cơ sở văn hóa – thể thao:

Tại khu vực trung tâm thành phố là quần thể các công trình kiến trúc lịch sử, văn hóa thể thao tiêu biểu: Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, Đền Đội Cấn, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Vườn hoa sông Cầu, Trung tâm thi đấu thể dục thể thao, Trung tâm Hội nghị và Văn hóa, quảng trường 20-8, Chợ Thái – một trong những công trình thương mại dịch vụ lớn của thành phố.

Nằm ở phía đông bắc trung tâm hành chính là quần thể các công trình văn hoá thể thao của tỉnh và thành phố. Bao gồm rạp chiếu bóng, thư viện, bảo tàng, các câu lạc bộ, trung tâm huấn luyện thể dục thể thao với các phòng luyện tập, phòng thi đấu gắn với sân vận động, hình thành một quần thể kiến trúc hiện đại tiêu biểu của thành phố Thái Nguyên.

Trên lĩnh vực văn hoá, thể thao: Thành phố Thái Nguyên có nhiều loại hình hoạt động văn hoá thể thao phong phú, đa dạng, hiện có 1 trung tâm văn hoá – thông tin – thể thao cấp thành phố, trên địa bàn có 9 sân vận động (diện tích 4,27 ha) và 6 nhà thi đấu (diện tích 0,29 ha).

Hiện 28 phường, xã đã có hội trường dùng để sinh hoạt chung. Toàn thành phố 367 nhà văn hoá xóm tổ (diện tích 23,73 ha), 28 tủ sách pháp luật và 20 xã phường có trạm truyền thanh, 100% các xã, phường đều có điểm bưu điện văn hoá. Các cơ sở văn hoá như: Bảo tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam, Bảo tàng Thái Nguyên, Bảo tàng lực lượng vũ trang quân khu I, nhà văn hoá công nhân Gang thép…luôn được bảo tồn, tôn tạo. Một số công trình thể thao lớn của tỉnh trên địa bàn thành phố đang được xây dựng như: Sân vận động Gang thép, Trung tâm dịch vụ và thi đấu thể thao có sức chứa tiêu chuẩn, một số bể bơi (Bể bơi đại học Sư phạm Thái nguyên, Bể bơi nhà thiếu nhi Thái Nguyên…), câu lạc bộ thể dục thẩm mỹ, sân quần vợt, rạp chiếu bóng…nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí và tập luyện TDTT thường xuyên của người dân Thành phố.

Y tế:

Với mục tiêu chiến lược: “Phấn đấu để mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng ngay từ tuyến y tế cơ sở, thành phố đặc biệt quan tâm và đầu tư các trạm y tế đạt chuẩn ở mỗi đơn vị phường, xã. Đến nay, thành phố có 14/28 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, phấn đấu đến hết năm 2010, 100% các trạm y tế ở các xã, phường đều đạt chuẩn quốc gia.

Thành phố Thái Nguyên có Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, là bệnh viện lớn nhất vùng Trung du miền núi phía Bắc (diện tích 6,91 ha, với 700 giường bệnh, năm 2010 tăng lên 1.000 giường bệnh) vào năm 2010 bệnh viện có tổng số 608 bác sỹ, dược sỹ, y sỹ….khám và chữa bệnh cho khoảng 266.418 lượt bệnh nhân. Ngoài ra còn có Bệnh viện Trường đại học Y Dược – Đại học Thái Nguyên và 9 bệnh viện cấp Tỉnh trực thuộc Sở Y tế (trong đó có 2 bệnh viện hạng II với tổng số 530 giường bệnh, 5 bệnh viện chuyên khoa cấp II và cấp III với 480 giường bệnh). Thực hiện tốt các chương trình quốc gia về y tế.

Năm 2010 khám chữa bệnh cho 112.430 lượt người đạt 102% kế hoạch, số bệnh nhân điều trị nội trú là 2.342 lượt người; Thực hiện tốt việc khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi tại 28/28 xã, phường. Đảm bảo phục vụ công tác khám chữa bệnh cho nhân dân thành phố, tỉnh và các khu vực lân cận.

Giáo dục – đào tạo:

Thành phố Thái Nguyên là trung tâm giáo dục đào tạo lớn thứ 3 cả nước sau thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống trường lớp được sắp xếp và đầu tư xây dựng ngày càng khang trang hơn với tổng diện tích khoảng 295,7 ha, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học được tăng cường. Cơ cấu các ngành học được nâng cấp bổ sung. Ngoài hệ thống giáo dục phổ thông, bổ túc văn hoá, đã hình thành nhiều loại hình đào tạo như các lớp dạy nghề, trung tâm ngoại ngữ, tin học, các lớp kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp…phong phú, đa dạng, tạo điều kiện cho ngành giáo dục đào tạo phát triển cả về quy mô và chất lượng.

Theo thống kê trong năm học 2009 – 2010, có 39 trường mầm non (với diện tích 28,23 ha ), 34 trường tiểu học (diện tích 23,4 ha), 28 trường trung học cơ sở và 1 trường dân lập (diện tích 20,86 ha), 8 trường trung học phổ thông trong đó có 2 trường đạt chuẩn quốc gia, có tổng số 1.512 lớp học với 3.086 giáo viên và 48.829 học sinh. Đến năm 2010, trên địa bàn Thành phố đã có 44/100 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó  có 7 trường mần non, 26 trường tiểu học (02 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ II), 11 trường THCS. Tổng số học sinh dự thi tốt nghiệp Trung học phổ thông là 4.430 học sinh; Trong đó tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông của Thành phố chiếm 91,47%

Ngoài hệ thống giáo dục phổ thông, trên địa bàn thành phố có hệ thống các trường đại học, cao đẳng, THCN và dạy nghề do trung ương và địa phương quản lý. Hiện nay, trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên có 6 cơ sở đào tạo thuộc cấp đại học (diện tích 172,58 ha) và 11 cơ sở đào tạo thuộc cấp cao đẳng (diện tích 41,16 ha) với tổng số trên 2.500 giáo viên tham gia giảng dạy hàng nghìn sinh viên. Hiện trên địa bàn thành phố có 1 trung tâm giáo dục thường xuyên gồm 4.269 học sinh và 29 giáo viên và 1 trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp – dạy nghề cùng các trung tâm học tập cộng đồng và 5 trung tâm dịch vụ việc làm cho số học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường cũng như nhu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, tỉnh và các tỉnh lân cận.

Về xử lý nước thải:

Hệ thống thoát nước thành phố Thái Nguyên hiện nay là hệ thống thoát nước chung, chưa hoàn chỉnh. Nước thải của các khu công nghiệp (như khu luyện cán thép Gia sàng, nhà máy thép, nhà máy giấy…) chỉ được xử lý cục bộ; Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Nguyên đã có công trình xử lý nước thải bằng vi sinh vật với bể Aeroten khuấy trộn bề mặt, bộ phận khử trùng Clo và hồ sinh vật…

Hiện tại thành phố Thái Nguyên đang quy hoạch hệ thống thoát nước toàn thành phố, đã được đầu tư khá lớn nhằm nâng cấp hệ thống thoát nước. Theo thống kê năm 2010, đã có 13/16 cơ sở sản xuất mới xây dựng trên địa bàn thành phố đã có trạm xử lý nước thải chiếm 81,3%, hệ thống thoát nước mưa cũng được thành phố đầu tư nâng cấp trên 53 tuyến đường với chiều dài hơn 104,44 km đường cống thoát nước.

Về quản lý chất thải rắn:

Khối lượng rác thải của thành phố được các đơn vị vệ sinh môi trường thu gom vào khoảng 130 tấn/ngày tương đương 49.725 tấn/năm, chiếm 90,87% lượng chất thải toàn thành phố, bao gồm: khu vực nội thành là 16.790 tấn; rác sinh hoạt trong dân 24.473 tấn; rác thải cơ quan, đơn vị, cơ sở sản xuất 2.774 tấn và khu vực ngoại thành là 5.688 tấn. Tỷ lệ chất thải rắn khu vực nội thành được thu gom và xử lý là 92,7%.

Chất thải rắn sau khi được thu gom sẽ được vận chuyển đến bãi rác của thành phố.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TƯ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG

3.1. Thuận lợi

– Vị trí địa lý và kinh tế – chính trị của Thành phố Thái Nguyên là một trong những lợi thế quan trọng nhất trong phát triển kinh tế – xã hội. Với đầy đủ phương thức vận tải bằng đường bộ, đường thuỷ và đường sắt, có quốc lộ 3, 1B và quốc lộ 37 đi qua và hiện nay đang thi công đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên. Thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, giao lưu với Hà Nội và các địa phương khác.

– Nguồn nhân lực với tỷ lệ lao động đã qua đào tạo rất cao là một lợi thế phát triển hơn hẳn của thành phố so với nhiều địa phương khác trong vùng và cả nước.

– Thành phố có truyền thống phát triển công nghiệp từ rất sớm và là nơi tập trung nhiều cơ sở công nghiệp trung ương đóng trên địa bàn tỉnh.

– Vai trò trung tâm của thành phố đối với tỉnh Thái Nguyên và vùng trung du miền núi phía Bắc được khẳng định qua thực tiễn phát triển và được thể chế hoá bằng các văn bản pháp lý. Đây là cơ hội lớn cho việc phát triển thành phố trong tương lai.

– Nhu cầu thị trường trong nước đối với nhiều sản phẩm của thành phố Thái Nguyên (hàng công nghiệp, nông sản chế biến, dịch vụ giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá…) đang tăng nhanh là cơ hội rất lớn cho phát triển thành phố.

– Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội mở rộng thị trường, tiếp cận công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại và hợp tác phát triển cho thành phố.

– Điều kiện đất đai phù hợp với nhiều loại cây trồng, nên có thể phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp kết hợp làm tiền đề để phát triển công nghiệp chế biến nhất là sản phẩm chè đặc sản, tạo cơ sở thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

– Địa bàn thành phố với nhiều di tích danh thắng nếu được đầu tư sẽ thu hút được lượng du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng gấp nhiều lần so với hiện nay.

3.2. Khó khăn, hạn chế

– Tốc độ đô thị hóa nhanh, cơ sở hạ tầng đô thị chưa đồng bộ; nguồn vốn đầu tư còn hạn chế; khu đô thị cũ tập trung đông dân cư, ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng và bảo vệ môi trường sinh thái.

– Các khu công nghiệp tập trung đã và đang được đầu tư nhưng chưa đồng bộ; một số cụm công nghiệp hiện nay xen kẽ trong khu dân cư.

– Kinh tế phát triển nhưng chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của thành phố; khả năng tích lũy cho ngân sách chưa cao; nguồn lực đầu tư cho đầu tư và phát triển còn hạn chế.

– Tài nguyên khoáng sản tuy có nhưng trữ lượng nhỏ, rải rác không thuận lợi cho đầu tư khai thác và chế biến quy mô lớn.

Mặc dù năm 2013 dự báo kinh tế thế giới và trong nước vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro, nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn nhưng với những tiềm năng thế mạnh vốn có, TP. Thái Nguyên đang từng bước đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế, hội nhập và phát triển.


Nguồn:

Trích  “Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) của TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên” – Phòng Tài nguyên – Môi trường UBND TP Thái Nguyên.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s