TỈNH THÁI NGUYÊN

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du, nằm trong vùng trung du và miền núi Bắc bộ, có dịện tích tự nhiên 3.562,82 km2, dân số hiện nay là hơn 1 triệu người, chiếm 1,13% diện tích và 1,41% dân số so với cả nước.

 He-tren-Ho-Nui-Coc

Hồ Núi Cốc (Thái Nguyên)-một trong những Khu du lịch nổi tiếng cả nước.

Vị trí địa lý:

Tỉnh Thái Nguyên phía Bắc tiếp giáp với Tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với Tỉnh Vĩnh Phúc và Tỉnh Tuyên Quang, phía đông giáp với các Tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội. Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc bộ. 

 TPTN_09-2010

Thành phố Thái Nguyên – trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá
của tỉnh và khu vực các tỉnh trung du miền núi Bắc bộ

 Cùng với vị trí trung tâm của Việt Bắc, Thái Nguyên còn là nơi hội tụ nền văn hóa của các dân tộc miền núi phía Bắc, là đầu mối các hoạt động văn hóa, giáo dục của cả vùng núi phía Bắc rộng lớn.

 A-2

Thành phố bên dòng sông Cầu

 Địa hình: Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc Nam và thấp dần xuống phía Nam. Cấu trúc vùng núi phía Bắc chủ yếu là đa phong hóa mạnh, tạo thành nhiều hang động và thung lũng nhỏ.

Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất 1.590m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.

Ngoài dãy núi trên còn có dãy Ngân sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo hướng Đông Bắc, Tây Nam đến Võ Nhai và dãy núi Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc, Đông Nam. Cả ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều là những dãy núi cao che chắn gió mùa đông bắc.

Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình lại không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác.

Khí hậu:

Khí hậu Thái Nguyên vào mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt:

–         Vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện Võ Nhai.

–         Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, Phú Lương và phía Nam Võ Nhai.

–         Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công.

Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9o) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2o) là 13,7o. Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm.

Khí hậu Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1.
Nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp.
Đơn vị hành chính:

Tỉnh Thái Nguyên gồm có:
– 1 Thành phố: Thành Phố Thái Nguyên.
– 1 Thị xã: Thị xã Sông Công.
– 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương.

Tổng số gồm 180 xã, trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du.

 BanDo_new

Dân cư và phân bố dân cư:

Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có nhiều dân tộc anh em sinh sống, trong đó có 8 dân tộc chủ yếu đó là Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu, H’mông, Sán chay, Hoa và Dao. Dân cư phân bố không đều, vùng cao và vùng núi dân cư rất thưa thớt, trong khi đó ở thành thị và đồng bằng dân cư lại dày đặc. Mật độ dân số thấp nhất là huyện Võ Nhai 72 người/ km2, cao nhất là Thành phố Thái Nguyên với mật độ 1.260 người/ km.2.

Cơ sở hạ tầng của tỉnh Thái Nguyên

Giao thông vận tải:

– Đường bộ:
Tổng chiều dài Đường bộ của Tỉnh là 2.753 km trong đó:
Đường quốc lộ: 183 km. Đường tỉnh lộ: 105,5km. Đường huyện lộ: 659 km. Đường liên xã: 1.764 km. Các Đường tỉnh lộ, quốc lộ đều được dải nhựa.

Hệ thống Đường quốc lộ và tỉnh lộ phân bố khá hợp lý trên địa bàn tỉnh, phần lớn các Đường đều xuất phát từ trục dọc quốc lộ 3 đi trung tâm các huyện lỵ, thị xã, các khu kinh tế, vùng mỏ, khu du lịch và thông với các tỉnh lân cận. Đường quốc lộ 3 từ Hà Nội lên Bắc Kạn, Cao Bằng cắt dọc toàn bộ tỉnh Thái Nguyên, chạy qua Thành phố Thái Nguyên, nối Thái Nguyên với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Sông Hồng. Các quốc lộ 37, 18, 259 cùng với hệ thống Đường tỉnh lộ, huyện lộ là mạch máu quan trọng nối Thái Nguyên với các tỉnh xung quanh.

– Đường sắt:
Hệ thống Đường sắt từ Thái Nguyên đi các tỉnh khá thuận tiện.
Tuyến Đường sắt Hà Nội – Quán Triều chạy qua tỉnh nối Thái Nguyên với Hà Nội.

Tuyến Đường sắt Quán Triều – Núi Hồng rất thuận tiện cho việc vận chuyển khoáng sản ( vận chuyển than).

Tuyến Đường sắt Lưu Xá – Khúc Rồng nối với tuyến Đường sắt Hà Nội -Quán Triều, tuyến Đường sắt này cũng nối tỉnh Thái Nguyên với tỉnh Bắc Ninh (đến Ga kép) và ra tỉnh Quảng Ninh.
Hệ thống Đường sắt của tỉnh Thái Nguyên đảm bảo phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa với các tỉnh trong cả nước.
– Đường thuỷ:

Thái Nguyên có 2 tuyến Đường sông chính là: Đa Phúc – Hải Phòng dài 161 km. Đa Phúc – Hòn Gai dài 211 km.

Trong tương lai sẽ tiến hành nâng cấp và mở rộng mặt bằng cảng Đa Phúc, cơ giới hóa việc bốc dỡ, đảm bảo công suất bốc xếp được 1.000 tấn hàng hóa/ngày đêm. Ngoài ra, Thái Nguyên có 2 con sông chính là Sông Cầu và sông Công, cần nâng cấp để vận chuyển hàng hóa.

012(2) anh-cot-phat-song-vien-thong

Hệ thống điện:

Nằm trong hệ thống l­ới điện miền Bắc, Thái Nguyên là tỉnh có l­ới điện tương đối hoàn chỉnh. Toàn bộ các huyện trong tỉnh đều có lưới điện quốc gia, trong đó thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và một số huyện có lưới điện tương đối hoàn chỉnh.

Hệ thống bưu chính viễn thông:

Tỉnh Thái Nguyên có hệ thống thông tin viễn thông toàn quốc và quốc tế. Với mạng truyền dẫn vững chắc bằng thiết bị vi ba, tổng đài điện tử – kỹ thuật số đảm bảo đáp ứng được thông tin liên lạc trong toàn quốc và quốc tế. Với tổng đài 27.000 số hiện nay đã đạt dung lượng 18.000 thuê bao và dự kiến đến năm 2005 với tổng đài 33.076 số sẽ nâng lên 27.000 thuê bao.

Hệ thống nước sạch:

–       Thành phố Thái Nguyên và Thị xã Sông Công hiện nay đã có nhà máy nước. Nhà máy Nước Thái Nguyên hiện nay đang được cải tạo và nâng cấp bằng nguồn vốn vay của ADB. Năm 2001 dự án này sẽ kết thúc, công suất của Nhà máy Nước Thái Nguyên sẽ được nâng lên 30.000 m3/ ngày đêm, đảm bảo nhu cầu về khối lượng cũng như chất lượng nước cho nhu cầu của toàn thành phố.

Nhà máy Nước Thị xã Sông Công với công suất thiết kế 30.000 m3/ ngày đêm đảm bảo cho nhu cầu nước cho sự phát triển của Thị xã và Khu công nghiệp Sông Công, song về chất lượng nước sạch cần được nâng cao.

– Một số thị trấn huyện lỵ của tỉnh đã có hệ thống cấp nước sạch, cần đầu tư bổ sung cho các thị trấn còn lại.

Nguồn: http://www.baothainguyen.org.vn/

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s