Một số nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước


nhaquanlytuonglai8

1. Khái niệm ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước

1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước

Theo “Luật ngân sách” nhà nước Việt Nam năm 2002 thì: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.

1.2. Khái niệm thu ngân sách nhà nước

Thu ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.

Thu ngân sách nhà nước bao gồm rất nhiều loại, ngoài các khoản thu chính từ thuế, phí, lệ phí; còn có các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân; các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN và tác động

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước song nhìn chung, có một số nhân tố cơ bản như: GDP bình quân đầu người, tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế, khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ và khoáng sản), mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước và  tổ chức bộ máy thu nộp.

2.1. GDP bình quân đầu người

GDP bình quân đầu người là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến thu ngân sách của một quốc gia.

GDP (Gross Domestic Product) tức tổng sản phẩm quốc nội là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).

GDP phản ánh mức độ phát triển nền kinh tế và phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước. Mức độ phát triển nền kinh tế hàng hóa tiền tệ luôn là nhân tố quan trọng nhất đối với sự phát triển của mọi khâu tài chính. GDP bình quân đầu người là một yếu tố khách quan quyết định mức động viên của NSNN. Do đó, khi xác định mức độ động viên thu nhập vào NSNN mà thoát ly chỉ tiêu này thì sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của nền kinh tế.

Chỉ số tăng trưởng kinh tế GDP của Việt Nam có sự thay đổi theo từng năm từ đó có sự tác động đến thu ngân sách nhà nước. Cụ thể, chỉ số GDP năm 2008 của Việt Nam là 6,23%, năm 2009 giảm xuống 5,3%, năm 2010 tăng lên 6,78%, đến năm 2011 giảm xuống 5,89% và năm 2012 tiếp tục giảm xuống 5,03%. Ta có thể thấy chỉ số GDP đã phản ánh thực trạng nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây, kinh tế suy thoái, thị trường bất ổn, tăng trưởng kinh tế giảm là tình hình chung của kinh tế thế giới.

Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP có xu hướng giảm và dự báo năm 2013 kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn hơn năm trước nhưng nguồn thu ngân sách nhà nước vẫn có xu hướng tăng dần theo từng năm, năm 2008 đạt 416.783 tỷ đồng, năm 2009 đạt 442.340 tỷ đồng, năm 2010 đạt 558.158 tỷ đồng và năm 2012 đạt 741.500 tỷ đồng. Tuy nhiên, mức độ tăng thu ngân sách vẫn không bù đắp được tình trạng bội chi của nền kinh tế.

2.2. Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế

Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung và hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng. Tỷ suất lợi nhuận bình quân càng lớn sẽ phản ánh khả năng tái tạo và mở rộng các nguồn thu nhập trong nền kinh tế càng lớn, từ đó đưa tới khả năng huy động cho NSNN. Đây là yếu tố quyết định đến việc nâng cao tỷ suất thu NSNN. Do vậy, khi xác định tỷ suất thu Ngân sách cần căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế để đảm bảo việc huy động của Ngân sách Nhà nước không gây khó khăn về mặt tài chính cho các hoạt động kinh tế.

Kinh tế Việt Nam trong những năm qua cũng chịu nhiều sức ép quay lại vòng xoáy thứ hai kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra ở Mỹ và lan tỏa, tạo suy giảm kinh tế toàn cầu, tiêu biểu là từ đầu năm 2012 tới nay:

Tổng chi và thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/10/2012 ước tính đạt 678,6 nghìn tỷ đồng và 523,4 nghìn tỷ đồng. Đều giảm đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái.

Tỷ suất doanh lợi nhỏ hơn 1, ngân sách nhà nước thâm hụt.

 Nền kinh tế càng phát triển thì tỷ suất doanh lợi càng lớn (tức thu NS càng lớn hơn chi NS) làm cho ngồn tài chính càng lớn, nâng cao tỷ suất thu cho NSNN và ngược lại, khi kinh tế chậm phát triển, tỷ suất doanh lợi thấp làm giảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

2.3. Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên

Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên (dầu mỏ và khoáng sản) là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn thu ngân sách nhà nước.

Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to lớn cho Ngân sách Nhà nước. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thì tỷ suất thu Ngân sách sẽ cao và có khả năng tăng nhanh. Với cùng một điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản lớn thì tỷ lệ động viên vào NSNN cũng lớn hơn.

Dầu thô đóng góp lớn cho NSNN nước ta. Ở Việt Nam, tỷ trọng xuất khẩu dầu thô không cao như nhiều nước, song tỷ lệ động viên vào NSNN cũng đạt trên 20% và đóng góp đáng kể vào việc tăng tỷ lệ động viên vào NSNN.

Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, thu dầu thô năm 2012 ước đạt 140.107 tỷ đồng, bằng 161% so với dự toán (vượt 53.107 tỷ đồng) và tăng hơn 27% so với thực hiện năm 2011.

2.4. mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước

Nhân tố tiếp theo ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước là mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước.

Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô tổ chức của bộ máy Nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử, chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước. Khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí hoạt động của Nhà nước không có khả năng tăng lên, việc tăng mức độ chi phí của Nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suất thu của Ngân sách cũng tăng lên. Các nước đang phát triển thường rơi vào tình trạng nhu cầu chi tiêu của NSNN vượt quá khả năng thu, nên các Chính phủ thường phải vay nợ để bù đắp bội chi.

Nợ công có phạm vi rộng hơn nợ nước ngoài. Nó bao gồm nợ của chính phủ và toàn bộ nợ của doanh nghiệp quốc doanh, gồm cả nợ nước ngoài lẫn nợ trong nước, cũng như nợ của doanh nghiệp tư nhân mà nhà nước bảo lãnh. Việc bao gồm nợ của doanh nghiệp quốc doanh vào nợ công là dựa trên tiêu chuẩn quốc tế đã được chấp nhận rộng rãi với lý do là nhà nước không thể hay khó lòng về mặt chính trị xóa trách nhiệm đối với nợ của các doanh nghiệp do chính chính phủ dựng lên.

2.5. Tổ chức bộ máy thu nộp

Nhân tố tiếp theo có tác động trực tiếp đến thu ngân sách nhà nước là tổ chức bộ máy thu nộp.

Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả hoạt động của bộ máy này. Nếu tổ chức hệ thống cơ quan thuế, hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống lại thất thu do trốn, lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn thỏa mãn được các nhu cầu chi tiêu của NSNN.

Hiện nay, thu NSNN Việt Nam đang đứng trước vấn đề thâm hụt trầm trọng, nhiều yếu tố giảm thu NSNN đang xuất hiện làm cho khả năng mất cân đối thu chi NSNN cả năm trở thành thách thức lớn nhất đối với nền kinh tế.

Chính sách tài khóa của Việt Nam chưa thực sự nuôi dưỡng nguồn thu một cách hợp lí. Việt Nam mới xây dựng chính sách thu nhưng làm thế nào để có nguồn thu thì chính sách chưa đề cập đến một cách thỏa đáng nên nguồn thu giảm sụt cũng có phần do chính sách tài khóa tạo ra. Trong khi đó thực hiện chính sách tài khóa chưa nghiêm túc, đôi lúc còn chưa thực hiện tốt các quy định tài chính việc chậm nộp thuế, thất thu thuế vẫn còn, chi tiêu lãng phí, thực hành tiết kiệm chưa cao,… nên dẫn tới việc thu NSNN chưa đạt mục tiêu đề ra.

Nguyên nhân khác là do cơ chế tài chính rườm rà, phức tạp nên giải nên giải ngôn của các dự án, công trình gặp nhiều khó khăn gây tổn hại tăng trưởng kinh tế. Trước vấn đề trên để đạt được mục tiêu ngân sách cần tiếp tục kiềm chế lạm phát giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện chính sách tài khóa linh hoạt.

Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo  vấn đề phụ thuộc nước ngoài cả về chính trị lẫn kinh tế sẽ làm giảm dự trữ ngoại hối quá nhiều khi trả nợ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá. Vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất, và cái vòng “nợ – trả – lãi – bội chi” sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của ngân sách nhà nước cho kì sau. Việc vay nợ sẽ làm tăng nguồn thu NSNN nhưng vay quá nhiều thì sẽ làm bội chi NSNN.

 Nhà nước phát hành thêm tiền vào lưu thông làm tăng nguồn thu ngân sách nhà nước. Nhưng việc phát hành quá nhiều vào lưu thông lớn hơn lượng tiền cần thiết trong lưu thông thì sẽ gây ra lạm phát. NSNN là do thiếu hụt các nguồn đối ứng để đầu tư cho phát triển gây tăng trưởng nóng và không cân đối với khả năng tài chính quốc gia.

Tăng các khoản thu đặc biệt là thuế sẽ làm tăng nguồn thu ngân sách nhà nước. Việc tăng thuế có thể sẽ bù đắp việc thâm hụt ngân sách nhà nước và giảm bội chi ngân sách nhà nước. Tuy  nhiên nếu tăng thuế không hợp lí sẽ làm giá cả hàng hoá tăng gây ảnh hưởng đến lãi suất.

2.6. Nhân tố khác

Một trong số những nhân tố có tác động không nhỏ đến nguồn thu ngân sách nhà nước đó là việc Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO.

Nhìn chung, khi gia nhập WTO nguồn thu từ thuế cụ thể là thuế nhập khẩu sẽ giảm đi. Tuy nhiên, mức độ giảm không đáng kể so với nguồn thu tăng thêm cho ngân sách nhà nước do quá trình hội nhập WTO mang lại.

Khi gia nhập WTO Việt Nam phải mở cửa thị trường hàng hóa, ràng buộc mức trần cho tất cả các dòng thuế trong biểu xuất nhập khẩu, không sử dụng phí, lệ phí và các khoản thu khác nhằm mục đích thu ngân sách (ngoài thuế nhập khẩu). Hơn nữa, Việt Nam giảm mức thuế nhập khẩu bình quân từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% trong vòng 5-7 năm. Mức thuế nhập khẩu bình quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9% và mức thuế nhập khẩu bình quân đối với hàng phi nông sản giảm từ 16,8% xuống 12,6%.

Việc cắt giảm thuế trong ngắn hạn sẽ có tác động nhất định giảm thu ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, về lâu dài sẽ tác động không lớn đối với nguồn thu ngân sách nhà nước. Hiện nay ở nước ta, tổng thu từ thuế nhập khẩu chỉ chiếm khoảng 9% tổng thu ngân sách nhà nước. Đối với kim ngạch nhập khẩu, chỉ khoảng 20% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm chịu ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế nhập khẩu; việc cắt giảm thuế lại được thực hiện theo lộ trình, không phải cắt giảm đối với tất cả mặt hàng, cũng không cắt giảm ngay trong giai đoạn đầu tiên. Mặt khác, việc cắt giảm thuế chắc chắn sẽ làm tăng kim ngạch xuất nhập khẩu (việc giảm thuế tất yếu sẽ thúc đẩy nhập khẩu hàng với số lượng lớn hơn nhập nhiều nguyên vật liệu đầu vào hơn…) và dẫn đến tăng thu thuế nhập khẩu, nên sẽ tác động không lớn, thậm chí về lâu dài sẽ làm tăng thu cho ngân sách nhà nước. Kinh nghiệm cho thấy đối với một số mặt hàng có khi việc cắt giảm thuế lại là biện pháp hữu hiệu nhất kiềm chế nạn nhập lậu một số mặt hàng có giá trị lớn, thuế suất nhập khẩu cao (ví dụ mặt hàng điện thoại di động, vàng, kim loại quý, ô tô xe máy…) vì việc giảm thuế sẽ làm giảm động lực của việc nhập lậu vốn chứa đựng nhiều rủi ro, thúc đẩy việc nhập khẩu chính ngạch không bị rủi ro, không vi phạm pháp luật, thúc đẩy tăng thu ngân sách.

3. Kết luận

Như vậy, để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và khống chế bội chi cần quan tâm đến một nhân tố có ảnh hưởng, tác động đến thu NSNN  nêu trên cũng như cần có giải pháp chiến lược về cải cách thuế như: vấn đề tài khóa, vấn đề tái phân phối thu nhập và công bằng xã hội, vấn đề hành chính thuế; giải pháp giảm thâm hụt ngân sách nhà nước như: thực hiện chính sách tiền tệ chặt, kiểm soát chặt chẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, tập trung sức phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu, giảm nhập siêu, tăng cường công tác quản lý thị trường chống đầu cơ buôn lậu và gian lận thương mại, kiểm soát việc chấp hành pháp luật Nhà nước về giá…Đồng thời thực hiện các giải pháp tăng thu ngân sách nhà nước. Cụ thể như: Khi khai thác, cho thuê, nhượng bán tài sản, tài nguyên quốc gia tăng thu cho ngân sách, nhà nước cần phải dành kinh phí thỏa đáng cho để nuôi dưỡng, tái tạo và phát triển các tài sản, tài nguyên ấy, không làm cạn kiệt và phá hủy tài sản, tài nguyên vì mục đích trước mắt; chính sách thuế phải vừa huy động được nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa khuyến khích tích tụ vốn cho doanh nghiệp và dân cư; chính sách vay dân để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước phải được đặt trên cơ sở thu nhập và mức sống của dân; dùng ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp vào một số doanh nghiệp quan trọng trong những lĩnh vực then chốt, nhằm tạo ra nguồn tài chính mới; nhà nước cần có chính sách tiết kiệm, khuyến khích mọi người tiết kiệm tiêu dùng, tinh giản bộ máy, cải cách hành chính để tích lũy vốn chi cho đầu tư…Quan tâm đúng mức tới các yếu tố ảnh hưởng tới thu ngân sách nhà nước và thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp nêu trên sẽ góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế đất nước bền vững.

Tác giả:  Hạo Nhiên

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s