Vì sao tài chính công chi phối, điều chỉnh tài chính khu vực tư?

nhaquanlytuonglai6

Vì sao tài chính công chi phối, điều chỉnh được tài chính khu vực tư? 

1. Hệ thống tài chính Việt Nam

Hệ thống tài chính là tổng thể của các bộ phận khác nhau trong một cơ cấu tài chính mà ở đó các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau nhưng có mối liên hệ tác động lẫn nhau theo những quy luật nhất định.

Hệ thống tài chính Việt Nam bao gồm 4 tụ điểm vốn và 1 bộ phận dẫn vốn:

Các tụ điểm vốn là bộ phận mà ở đó nguồn tài chính được tạo ra, là nơi thu hút trở lại các nguồn vốn nhưng ở những phạm vi mức độ khác nhau bao gồm:

–     Tài chính doanh nghiệp

–      Ngân sách nhà nước

–     Tài chính dân cư (tài chính hộ gia đình) và các tổ chức xã hội khác

–     Tài chinh đối ngoại

Bộ phận dẫn vốn là bộ phận thực hiện chức năng truyền dẫn vốn giữa các tụ điểm vốn trong hệ thống tài chính bao gồm thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian.

Thị trường tài chính gồm có hai bộ phận là thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Thị trường tiền tệ là thị trường tài chính ngắn hạn. Thị trường vốn là thị trường tài chính dài hạn gồm có thị trường tín dụng trung và dài hạn, thị trường cho thuê tài chính và thị trường chứng khoán.

Các tổ chức tài chính trung gian có nhiệm vụ tiết kiệm cho nền kinh tế các chi phí giao dịch và chi phí thông tin, bao gồm các tổ chức tài chính chính thức và các tổ chức tài chính không chính thức.

Các tổ chức tài chính chính thức bao gồm các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính và các quỹ tín dụng. Các tổ chức tài chính không chính thức tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau mà trước hết và quan trọng nhất là các công ty bảo hiểm.

 2.     Hệ thống tài chính công Việt Nam

 2.1. Khái niệm

Hệ thống Tài chính công là tổng thể các hoạt động tài chính gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ công và cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước nhằm phục vụ và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về kinh tế – xã hội mà Nhà nước đảm nhận.

 2.2. Các bộ phận cấu thành

Với việc xác định các tiêu chí đặc trưng của Tài chính công, có thể loại trừ khỏi Tài chính công các mắt khâu của hệ thống tài chính tư, từ đó có thể đưa ra, tài chính công gồm các bộ phận cấu thành là:

  •  Ngân sách nhà nước
  • Tín dụng nhà nước
  • Các quỹ tài chính nhà nước ngoài NSNN
  • Tài chính các cơ quan hành chính nhà nước
  • Tài chính các đơn vị sự nghiệp nhà nước

Trong các bộ phận cấu thành hệ thống tài chính công thì Ngân sách nhà nước là bộ phận quan trọng nhất, chi phối các thành tố khác.

Ở đây, cần đề cập đến 3 thành tố có quan hệ chặt chẽ với nhau và liên quan trực tiếp tới tài chính công hiện nay. Đó là NSNN, các quỹ tài chính nhà nước và tài chính các đơn vị hành chính sự nghiệp.

NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.

 Như vậy, xét về khía cạnh kinh tế, hoạt động thu – chi của NSNN thể hiện quá trình phân phối và phân phối lại một bộ phận giá trị tổng sản phẩm xã hội. Quy mô phân phối lại phụ thuộc vào mức độ động viên của NSNN.

Về chức năng, NSNN có 3 chức năng cơ bản. Đó là: công cụ thực hiện việc phân bổ nguồn lực trong xã hội; thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập và chức năng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Với các chức năng đó, NSNN tác động trực tiếp và gián tiếp tới hầu hết các chủ thể, các đơn vị và các tổ chức trong xã hội. Điều này cũng giải thích tại sao NSNN lại là thành tố quan trọng nhất của tài chính công.

Các quỹ tài chính nhà nước, về nguyên tắc, NSNN phải được quản lý một cách toàn diện, nhưng không có nghĩa là tất cả các khoản chi phải được quản lý theo quy trình thống nhất. Vì vậy, ở nhiều nước, một số khoản chi của Chính phủ đã được quản lý thông qua các quy trình đặc biệt, mà chủ đạo là các quỹ tài chính nhà nước, tạo nên sự linh hoạt nhất định trong quyết định chi tiêu của Chính phủ.

Quỹ tài chính nhà nước có nhiều loại hình khác nhau. Nhưng xét về hình thức tổ chức thường có 2 loại: là một tổ chức tài chính có bộ máy tổ chức, có tư cách pháp nhân (như Quỹ hỗ trợ phát triển…) hoặc chỉ là nguồn tài chính dành riêng để sử dụng vào một hoặc một số mục đích nhất định (như Quỹ bình ổn giá cả, Quỹ tích luỹ trả nợ…).

Các quỹ tài chính nhà nước thường có nguồn thu chủ yếu từ NSNN và huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân. Việc sử dụng quỹ không được hạch toán vào ngân sách mà được quản lý theo các quy định riêng. Tuy nhiên, cách làm này, bất kể mục đích gì đều làm nảy sinh một số vấn đề trong việc phân bổ nguồn ngân sách. Thông thường thì các giao dịch thực hiện từ các quỹ này không được phân loại theo các tiêu chí như các khoản chi ngân sách, từ đó làm ảnh hưởng đến tính đầy đủ, chính xác của việc phân tích các chương trình chi tiêu của Chính phủ. Hơn thế nữa, sự hiện diện của quá nhiều các loại quỹ tài chính nhà nước trong nền kinh tế sẽ làm cho nguồn lực tài chính nhà nước bị phân tán, tính minh bạch của ngân sách vì thế cũng sẽ bị hạn chế.

 

Tài chính các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp: các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc bộ máy nhà nước là những đơn vị có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công cộng cho xã hội. Nguồn tài chính cho các đơn vị này hoạt động chủ yếu dựa vào những khoản cấp phát theo chế độ từ NSNN. Ngoài ra, còn một số khoản thu khác có nguồn gốc từ NSNN, các khoản thu do đơn vị tự khai thác, hoặc từ quyên góp, tặng, biếu không phải nộp NSNN.

 

Giữa NSNN, các quỹ tài chính nhà nước và tài chính các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó NSNN có vai trò quan trọng và chi phối các thành tố khác. Một bộ phận rất lớn của chi NSNN được các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp sử dụng trực tiếp, do đó, hiệu quả tài chính của các khu vực này có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chi NSNN. Ngược lại, quy mô và hiệu quả của NSNN cũng sẽ quyết định, chi phối tiềm lực và hiệu quả tài chính các đơn vị hành chính, sự nghiệp.

3. Vai trò của Tài chính công

Trong thực tế, NSNN có vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính công. Nếu không có NSNN, thì Tài chính công không thể đáp ứng các nhu cầu về nguồn lực để Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ phát triển kinh tế, ổn định xã hội, an ninh quốc phòng.

NSNN giúp Tài chính công đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước.

Để  duy  trì  sự  tồn  tại  và  hoạt  động,  bộ máy Nhà nước  cần  phải  có nguồn tài chính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu. Các nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước được đáp ứng bởi  NSNN. Vai  trò kể  trên được  thể hiện  trên các khía cạnh sau đây:

Một là, khai thác, động viên và tập trung các nguồn tài chính để đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được Nhà nước dự tính cho từng thời kỳ phát triển.

Hai là, phân phối các nguồn tài chính đã tập trung được vào tay Nhà nước cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Ba là, kiểm tra giám sát để đảm bảo cho các nguồn tài chính đã phân phối được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhất, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của quản lý Nhà nước và phát triển kinh tế – xã hội.

NSNN đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

Thứ nhất, TCC có vai  trò chi phối các hoạt động của khu vực phi Nhà nước thông qua thu chi NSNN. Một mặt, doanh nghiệp có nhiệm vụ nộp thuế để tạo nguồn thu NSNN,  đóng  góp  cho  việc  thực hiện  các nhu  cầu chung của xã hội. Mặt khác, với quy mô lớn NSNN, TCC có thể đầu tư cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội tạo thuận  lợi cho kinh doanh sản xuất, đồng thời có thể thực hiện sự trợ giúp về tài chính nhằm duy trì và đẩy mạnh hoạt động.

Thứ hai, TCC có vai trò hướng dẫn các hoạt động của khu vực phi Nhà nước. Chẳng hạn, chính sách thuế có tác dụng hướng dẫn đầu tư, hướng dẫn tiêu dùng, đầu tư của Nhà nước có tác dụng “châm ngòi” thu hút đầu tư và hướng dẫn đầu tư của khu vực phi Nhà nước…

Thứ ba, TCC có vai  trò điều chỉnh các hoạt động của khu vực phi Nhà nước. Vai  trò  này được  thể  hiện,  thông  qua  hoạt  động kiểm tra NSNN có  thể phát hiện những điểm bất hợp  lý, những sự chệch hướng của các hiện tượng thu, chi trong các hoạt động tạo lập, phân phối và sử dụng NSNN, từ đó, đưa ra các biện pháp cứng rắn, cũng như điều chỉnh Luật đảm bảo quản lý chặt chẽ việc thu chi NS và nâng cao hiệu quả của việc sử dụng chúng.

 NSNN hỗ trợ TCC  trong việc  thực hiện các mục  tiêu của kinh tế vĩ mô

Thứ  nhất,  vai trò kinh tế của TCC: TCC đóng  vai  trò  quan  trọng  trong  việc thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế xã hội. Vai trò này được phát huy nhờ vào việc vận dụng chức năng phân bổ nguồn lực của NSNN trong hoạt động thực tiễn.

Thông qua công cụ thuế với các mức thuế suất khác nhau và ưu đãi về thuế, NN định hướng đầu tư; điều chỉnh cơ cấu của nền kinh  tế , kích  thích  hoặc  hạn  chế  sản  xuất  kinh doanh theo ngành hoặc theo sản phẩm…

Thông qua hoạt động phân phối NSNN cho xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tư vào các ngành  then chốt, các  công  trình mũi nhọn,  hình  thành các  DNNN,  hỗ  trợ  tài  chính  cho  các  doanh  nghiệp  cần  nâng  đỡ khuyến khích  (qua  biện pháp  trợ  giá,  trợ  cấp…), TCC góp phần tạo điều kiện thuận  lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần hình thành và hoàn thiện cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế – xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển và tăng trưởng.

Thứ hai, vai trò xã hội của TCC: TCC đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội.

Vai trò này được thể hiện thông qua việc sử dụng các công cụ thu, chi của  NSNN để điều chỉnh thu nhập  giữa các  tầng  lớp dân cư (giảm bớt các thu nhập cao và nâng đỡ các  thu nhập  thấp), giảm bớt những bất hợp lý trong phân phối, đảm bảo công bằng trong phân phối và góp phần giải quyết những vấn đề xã hội đáp ứng các mục tiêu xã hội của kinh tế vĩ mô.

Để giảm bớt thu nhập cao, công cụ thuế được sử dụng với chức năng tái phân phối thu nhập : Đánh  thuế  luỹ  tiến vào  thu nhập cao, đánh  thuế  tiêu  thụ đặc biệt cao vào hàng hóa xa xỉ. Giảm  thuế  cho  những  hàng  hoá  thiết  yếu đồng  thời  sử  dụng  công  cụ  chi NS vào việc trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu và trợ cấp xã hội cho những người có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn.

Trong việc giải quyết các đề xã hội, NSNN được sử dụng để tài trợ cho phát triển các dịch vụ công cộng như văn hoá, giáo dục, y tế, đặc biệt  là dịch vụ nhà ở, tài trợ cho việc thực hiện các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; hỗ trợ tài chính cho việc thực hiện các biện pháp phòng chống các tệ nạn xã hội; hỗ trợ tài chính cho giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp…

Thứ ba, TCC đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu ổn định của kinh tế vĩ mô.

Sự phát triển ổn định của một nền kinh tế được đánh giá  trên nhiều tiêu chí như: Đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý và bền vững; duy trì việc sử dụng  lao động ở tỷ  lệ cao; thực hiện được cân đối cán cân thanh toán quốc tế; hạn chế sự tăng giá đột ngột, đồng  loạt và kéo dài tức là cầm giữ được lạm phát ở mức vừa phải…

Do đó, NSNN luôn là biện pháp để TCC can thiệp kịp thời vào thị trường bằng cách : Tạo lập các quỹ dự trữ về hàng hoá và tài chính nhằm đề phòng và ứng phó với những biến động của thị trường; tạo lập quỹ bình ổn giá; tạo lập và sử dụng quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm…

Trong  trường hợp nền kinh  tế có  lạm phát, biện pháp đưa ra là: Cắt giảm chi tiêu Ngân sách, tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư; …

Tóm lại, vai trò của TCC là rất quan trọng đối với nền kinh tế – xã hội của mỗi nước. Để phát huy hết vai trò của TCC, thì NSNN chính là nội dụng quan trọng hàng đầu đảm bảo cho TCC thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ của NN, giúp phát triển kinh tế, ổn định xã hội, chăm lo đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng.

4. Tính quyền lực của tài chính công

Tài chính công là các hoạt động thu và chi bằng tiền của nhà nước phản ánh các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội.

Xuất phát từ khái niệm trên, ta có thể thấy đặc trưng của tài chính công là:

Tài chính công luôn gắn với quyền lực chính trị của nhà nước, thể hiện tính cưỡng chế bằng luật lệ do nhà nước quy định và mang tính không hoàn trả là chủ yếu.

Tài chính công thuộc sở hữu nhà nước, do đó, nhà nước là chủ thể duy nhất quyết đinh việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ của mình. Ở Việt Nam, Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất – là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ các khoản chi của ngân sách nhà nước tương ứng với những nhiệm vụ đã đề ra.

Nguồn thu của tài chính công bao gồm thuế, phí, lệ phí, tín dụng nhà nước. Việc chi tiêu quỹ tiền tệ này gắn với việc duy trì và phát huy hiệu lực của bộ máy nhà nước cũng như thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội mà nhà nước đảm nhận.

Từ những đặc trưng trên của tài chính công ta có thể thấy tính quyền lực của tài chính công.

5. Những khuyết tật của cơ chế thị trường và sự can thiệp của Chính phủ

Cơ chế thị trường là tổng thể các yếu tố cung, cầu, giá cả và thị trường cùng các mối quan hệ cơ bản vận động dưới sự điểu tiết của các quy luật thị trường trong môi trường cạnh tranh nhằm mục tiêu duy nhất là lợi nhuận.

Cơ chế thị trường có ưu điểm là tự do kinh doanh, khuyến khích cạnh tranh, thông qua thị trường mà phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả nhất, phát huy đến mức cao nhất các tài năng sáng tạo…

Tuy nhiên, cơ chế thị trường cũng bộc lộ những khuyết điểm cần khắc phục như:

Cơ chế thị trường chỉ phát huy tác dụng khi có sự kiểm soát của cạnh tranh hoàn hảo, khi xuất hiện cạnh tranh không hoàn hảo thì hiệu lực của cơ chế thị trường sẽ bị giảm. Chẳng hạn khi xuất hiện độc quyền, các nhà độc quyền có thể giảm sản lượng, tăng giá để thu lợi nhuận cao, mặt khác, khi xuất hiện độc quyền, thì không có sứ ép của cạnh tranh đối với việc đổi mới kỹ thuật.

Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, vì vậy họ có thể lạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trường sống của con người, do đó hiệu quả kinh tế – xã hội không được đảm bảo.

Phân phối thu nhập không công bằng. Sự tác động của cơ chế thị trường sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, sự phân cực về của cải, tác động xấu đến đạo đức và tình người.

Một nền kinh tế do cơ chế thị trường điều tiết thuần túy khó tránh khỏi những thăng trầm, khủng hoảng kinh tế có tính chất chu kỳ và thất nghiệp.

Nguyên nhân dẫn đến những thất bại, khuyết tật của thị trường là do: Sức mạnh thị trường; Thông tin không hoàn hảo; Ngoại ứng; Cung cấp hàng hóa công cộng; Phân phối thu nhập không công bằng…

Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, trong đó, Chính phủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng.

Chính phủ là tổ chức mang tính giai cấp được thiết lập để thực thi những quyền lực nhất định, điều tiết hành vi của các tổ chức cá nhân sống trong xã hội, nhằm phục vụ lợi ích chung của xã hội đó và tài trợ cho việc cung cáp những hàng hoá dịch vụ thiết yếu mà xã hội có nhu cầu.

Chính phủ thể hiện vai trò điều tiết, khắc phục những khuyết tật của thị trường trong việc can thiệp vào những nội dung như: Đánh thuế vào từng đơn vị sản phẩm; Qui định chuẩn ô nhiễm; Thu phí gây ô nhiễm; Cấp giấy phép xả chất thải, có thể mua, bán, chuyển nhượng được.

Ví dụ như vụ Công ty Vedan Việt Nam vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường xả nước thải ra sông Thị Vải gây ô nhiễm môi trường. Và ngày 6 tháng 10, Chánh Thanh tra Bộ Tài nguyên Môi trường ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường đối với Vedan với tổng số tiền phạt là 267,5 triệu đồng, buộc truy nộp phí bảo vệ môi trường hơn 127 tỉ đồng.

Ngoài ra, Chính phủ còn thực hiện các giải phát khác can thiệp vào vấn đề môi trường như xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, xây dựng khu công nghiệp xa khu dân cư, xây dựng kỹ thuật xử lý rác thải…

Một vai trò quan trọng của Chính phủ trong việc can thiệp vào vấn đề bảo vệ môi trường đó là việc đánh thuế về môi trường. Tác động của thuế là đánh vào ý thức bảo vệ môi trường của mỗi cá nhân trong xã hội. Số tiền thuế sẽ sử dụng để khắc phục những hậu quả của ô nhiễm môi trường cũng như bảo vệ lợi ích cho những người dân sống gần khu bị ô nhiễm.

Chính phủ thể hiện vai trò can thiệp vào đời sống kinh tế – xã hội bằng việc cung cấp hiệu quả hàng hóa công cộng hay đảm bảo phân phối thu nhập công bằng nhằm giảm sự bất công trong xã hội.

Các giải pháp Chính phủ thực hiện nhằm đảm bảo phân phối thu nhập công bằng như đánh thuế thu nhập cá nhân đối với người có thu nhập cao, đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với những hàng hóa trong danh mục hàng hóa bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt. Đồng thời, thực hiện chính sách trợ cấp cho người nghèo, người có thu nhập thấp, điều chỉnh thu nhập thông qua mức lương tối thiểu…

6. Vai trò của tài chính công trong hệ thống tài chính Việt Nam

Hệ thống tài chính của nước ta bao gồm các khoản sau đây:

* Ngân sách Nhà nước (NSNN)

 Là kế hoạch tài chính cơ bản của quốc gia, NSNN  bao gồm NSNN trung ương và NSNN địa phương, phương thức huy động của ngân sách nhà nước thể hiện các khoản thu phần lớn là mang tính chất cấp phát không hoàn lại trực tiếp. Mọi hoạt động của NSNN đều là hoạt động phân phối  các nguồn tài chính nhằm không ngừng tái sản xuất mở rộng, thường xuyên nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân và đảm bảo an ninh, quốc phòng

* Các định chế tài chính trung gian

Các tổ chức tín dụng, các Công ty tài chính, các quỹ đầu tư… các tổ chức này đứng ra huy động các nguồn tài chính nhàn rỗi theo nguyên tắc hoàn trả có thời hạn và có lợi tức. Hoạt động của các định chế tài chính  trung gian góp phần tạo ra các nguồn tài chính đáp ứng yeu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khác, giữa doanh nghiệp với NSNN, với các tầng lớp dân cư và tổ chức xã hội tạo nên thị trường tài chính đa dạng trong nền kinh tế.

* Tài chính của các tổ chức xã hội dân cư

Bao gồm tài chính của các tổ chức  chính trị, xã hội các đoàn thể xã hội được NSNN Nhà nước đảm bảo, còn kinh phí của các tổ chức khác, các hội nghề nghiệp sẽ hoạt động bằng nguồn đóng góp hội phí, quyên góp ủng hộ của dân cư, các tổ chức xã hội và các tổ chức trong  hộ gia đình, các quỹ tiền tệ hình  thành từ thu nhập tiền lương của các thành viên trong gia đình do lao động sản xuất kinh doanh hoặc do thừa kế tài sản.

Đặc trưng của khâu tài chính  này kà các quỹ tiền tệ chủ yếu chi cho tiêu dùng. Khi nhàn rỗi có thể tham gia thị trường tài chính  qua các định chế tài chính trung gian hoặc có thể góp cổ phần, mua cổ phiếu, trái phiếu

* Tài chính các doanh nghiệp

Bao gồm: tài chính các đơn vị, các tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế

Trong hệ thống tài chính nước ta, ngân sách giữ vai trò chủ đạo. Các định chế tài chính trung gian có vai trò hỗ trợ. Tài chính đôi với các tổ chức xã hội và hộ dân cư bổ sung nhằm tăng nguồn lực tài chính cho nền kinh tế, còn tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở của cả hệ thống. Sự hoạt động có hiệu quả của tài chính doanh nghiệp có tác dụng củng cố hệ thống tài chính quốc gia.

Trong hệ thống tài chính quốc gia, tài chính công giữ vai trò trung tâm điều tiết chung nền kinh tế – xã hội. Tài chính công có thể tác động tích cực kích thích hoặc tác động tiêu cực kìm hãm sự phát triển của tài chính khu vực tư trong đó có tài chính các doanh nghiệp và tài chính các tổ chức xã hội dân cư.

Cụ thể, Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đã đưa ra chủ trương “thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ…”. Trong quá trình thực hiện chủ trương này, bên cạnh những mặt tích cực, mặt trái của chính sách này là tình trạng khát vốn của nền kinh tế đã đẩy nhiều doanh nghiệp vào tình cảnh khó khăn.

Một là, nhiều DN không tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng ngân hàng: Theo điều tra của Tổng cục Thống kê, đến đầu tháng 5/2012 có hơn 42% số DN không vay vốn trong hoạt động kinh doanh. Trong số 58% DN có vay vốn, thì hơn 50% trong số họ vay vốn từ ngân hàng thương mại nhà nước, gần 30% có vay vốn từ ngân hàng thương mại cổ phần, số còn lại phải vay vốn từ bạn bè, người thân…

Có khá nhiều rào cản đối với DN trong tiếp cận vốn vay ngân hàng. Đầu tiên và lớn nhất là lãi suất cao; gần 40% số DN gặp phải rào cản này. Tiếp sau là thủ tục phiền hà (28,5% DN), không có thế chấp (gần 19% DN), phải trả thêm phụ phí (gần 10% DN) và cuối cùng là không có vốn đối ứng (khoảng 7% DN).

Về lãi suất tín dụng, kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê cho thấy, phần lớn DN đã vay vốn với lãi suất rất cao trong nửa đầu năm 2012, cụ thể: 78,5% số DN đã phải trả mức lãi suất từ 16% trở lên; hơn một nửa số DN phải trả mức lãi suất từ 18% trở lên. Ngoài ra, việc khống chế dư nợ phi sản xuất khoảng 16% theo chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN nhằm hướng dòng vốn vào khu vực trực tiếp làm ra của cải vật chất… là điều cần thiết, song do tính chất cào bằng nên những dự án cần ưu tiên đầu tư như phân khúc nhà ở xã hội, nhà ở cho tái định cư, nhà ở cho người thu nhập thấp theo tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ về đảm bảo an sinh xã hội cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong nửa đầu năm 2012.

Hai là, lãi vay phải trả đã đẩy chi phí vốn của DN tăng cao, dẫn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh suy giảm: Cuối năm 2012, đầu năm 2013, lãi suất tăng góp phần làm cho chi phí đầu vào của DN tăng theo. Trong khi đó, tình hình kinh doanh của các DN lại hết sức khó khăn, thị trường đầu ra bị thu hẹp, hàng tồn kho tăng nhanh, hiệu quả sử dụng vốn của hầu hết các DN ở mức rất thấp.

Không những kinh doanh thua lỗ, nhiều DN thậm chí phải ngừng hoạt động. Chưa khi nào con số các DN đóng cửa cao như hai năm qua. Số DN phá sản và đóng cửa tăng vọt. Năm 2011, có khoảng 53.000 DN, năm 2012 có khoảng 58.000 DN.

Ba là, tình trạng không trả được nợ của các DN đã dẫn đến việc chiếm dụng vốn lẫn nhau ngày càng trầm trọng, nợ xấu ngân hàng tăng nhanh: Có thể nói, cơ cấu vốn của các DN Việt Nam hai năm qua rất rủi ro. Theo báo cáo tại hội nghị đầu tư 2012 do báo Nhịp cầu Đầu tư tổ chức ngày 16/8/2012, tại TP. Hồ Chí Minh, tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu bình quân quý II/2012 của 647 công ty phi tài chính niêm yết, lên tới 1,53 lần, ngành xây dựng và bất động sản tổng nợ phải trả gấp hơn 2 lần vốn chủ sở hữu (207%) và thấp nhất là ngành hàng tiêu dùng với 80%.

Cũng theo báo cáo khảo sát của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cho thấy 16% trong số 70 DN khảo sát đang nằm trong tình trạng phải gia hạn nợ gốc và lãi vay. Điều này dẫn đến nợ xấu của các NHTM gia tăng. 

Theo số liệu của NHNN, nợ xấu năm 2009 của Việt Nam vào khoảng 45.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2,5% tổng dư nợ, năm 2010 khoảng 38.000 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 2,1%, năm 2011 khoảng 78.000 tỷ đồng, chiếm 3,2%, đến tháng 3/2012 là 202.000 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ (số liệu công bố ngày 12/7/2012 của NHNN). Nợ xấu là nguyên nhân cơ bản làm các luồng vốn trong nền kinh tế bị tắc nghẽn, dòng tiền không luân chuyển được càng làm cho trình trạng khó khăn thêm trầm trọng.

Một ví dụ khác về chính sách tăng giá điện trong năm 2011 của Chính phủ. Đó là lần đầu tiên, giá điện tăng tới 2 lần trong một năm, tổng tăng 20,28%. Lần thứ nhất, mức tăng là 15,28% vào ngày 1/3, cao nhất kể từ năm 2006 so với suốt 4 năm qua.

Sau đó, Chính phủ đã giao quyền cho EVN được tự được tăng giá điện trong phạm vi 5%, 3 tháng mỗi. Và EVN đã thực thị điều đó một cách rất hiệu quả. Ngày 19/12, EVN bất ngờ thông cáo tăng 5% và áp dụng ngày vào hôm sau 20/12/2011. Cú tăng giá này khiến người dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội không còn cơ hội bày tỏ ý kiến như những lần trước. Điều này đã gay khó khăn đến đời sống sinh hoạt của người dân đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất cần sủ dụng nhiều điện năng.

Một chính sách về thuế khác trong năm 2011 đã khiến nhiều doanh nghiệp oto định rời bỏ Việt Nam. Đó là việc giữa năm 2011, cơ quan hải quan phát lệnh truy thu thuế nhập khẩu linh kiện ô tô tới hàng loạt hãng xe liên doanh trong nước. Theo đó, hãng xe ô tô Honda Việt Nam sẽ  bị truy thu tới 3.340 tỷ đồng, Ford Việt Nam khoảng 32 tỷ đồng, Toyota khoảng 2,7 tỷ đồng… Hãng bị “nặng” nhất là Honda bắt đầu lên tiếng dọa rời khỏi Việt Nam.

Đây là khoảng chênh lệch giữa thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc là 82% với mức thuế nhập khẩu từng linh kiện chi tiết ô tô chỉ trong khoảng từ 0-27%. Nguyên nhân là do trong suốt 5 năm gần đây, các hãng xe trên đã gian lận, nhập linh kiện không đảm bảo đủ độ rời rạc, đáng lẽ phải bị áp thuế theo thuế suất xe nguyên chiếc.

Và hệ quả là ngay sau đó, hàng loạt đơn thư của các hãng ô tô gửi đi. Phía các doanh nghiệp FDI trên đều dẫn chiếu, việc thông tư hướng dẫn chính sách thuế áp dụng tiêu chuẩn rời rạc ban hành từ năm 2005 đã quá lỗi thời và cần sửa đổi. Các đại sứ quán như sứ quán Nhật Bản đều vào cuộc.

Bốn bộ quản lý gồm bộ Tài chính – KH&CN – GTVT – Công Thương phải họp khẩn để giải quyết. Và theo sự đồng ý của Thủ tướng, sự việc đã đi hồi kết với giải pháp tình thế bằng việc đưa ra cách tính thuế mới: áp thuế suất ưu đãi nếu tổng giá trị của các linh kiện nhập khẩu chưa đảm bảo mức độ rời rạc không vượt quá 10% trên tổng giá trị của tất cả linh kiện phụ tùng cấu tạo lên một chiếc xe hoàn chỉnh. Các hãng xe cũng thoát tội truy thu thuế. 

Như vậy, ngoài vai trò tích cực vốn có của tài chính công trong việc điều tiết kinh tế vĩ mô, đảm bảo công bằng xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế thì cần phải chú ý đến tác động của việc áp dụng các chính sách kinh tế đến các các thành phần kinh tế khác trong xã hội. Trong đó, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội dân cư, các cá nhân, hộ gia đình để đảm bảo hài hòa lợi ích của mỗi người dân trong toàn xã hội.

Tác giả: Hạo Nhiên

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s