Vai trò của ngân sách nhà nước

2.1. Khái quát về ngân sách Nhà nước

Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.

Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân

 Ngân sách Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Nhà nước bằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đã đặt ra những khoản thu, chi của Ngân sách Nhà nước. Điều này cho thấy chính sự tồn tại của Nhà nước, vai trò của Nhà nước đối với đời sống kinh tế xã hội là những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và tính chất hoạt động của Ngân sách Nhà nước.

Trong thực tế nhìn bề ngoài hoạt động của Ngân sách Nhà nước biểu hiện đa dạng dưới hình thức các khoản thu và các khoản chi tài chính của Nhà nước ở các lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội. Các khoản thu chi này được tổng hợp trong một bảng dự toán thu chi tài chính được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Các khoản thu mang tính chất bắt buộc của Ngân sách Nhà nước là một bộ phận các nguồn tài chính chủ yếu được tạo ra thông qua việc phân phối thu nhập quốc dân được sáng tạo ra trong khu vực sản xuất kinh doanh và các khoản chi chủ yếu của Ngân sách mang tính chất cấp phát phục vụ cho đầu tư phát triển và tiêu dùng của xã hội .Như vậy, về hình thức có thể hiểu: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước có trong dự toán, đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thực hiện trong một năm để đảm bảo việc thực hiện chức năng,nhiệm vụ của nhà nước.

Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định. Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội.

Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội.

Bộ máy Nhà nước muốn thực hiện được sự hoạt động của mình một cách bình thường và ổn định để thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ là quản lý mọi mặt của đời sống xã hội của một quốc gia thì nhất thiết phải có nguồn NSNN đảm bảo.

Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước sử dụng các công cụ, các biện pháp bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết. Nhưng cơ sở để hình thành nguồn lực tài chính đó là từ sự phát triển kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh. Vì vậy, muốn động viên được nguồn thu NSNN ngày càng tăng và có hiệu quả thì nền kinh tế nói chung, sản xuất kinh doanh nói riêng phải được phát triển với tốc độ nhanh, bền vững và có hiệu quả cao. Vì vậy, Nhà nước trong quá trình quản lý kinh tế – xã hội phải nắm được quy luật kinh tế và tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan. Đồng thời phải bảo đảm hài hoà các quan hệ lợi ích của các chủ thể của nền kinh tế.

Một NSNN vững mạnh là một ngân sách mà cơ chế phân phối của nó đảm bảo được sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh nuôi dưỡng nguồn thu, trên cơ sở đó tăng được thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên.

Mặt khác, một NSNN vững mạnh còn phải thể hiện việc phân phối và quản lý chi đúng đắn, hợp lý và hiệu quả. Nhà nước sử dụng khối lượng tài chính từ nguồn NSNN để chi tiêu vào mục đích phát triển kinh tế – xã hội và chi tiêu cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước. Như vậy, chức năng của NSNN, ngoài việc động viên nguồn thu thì còn phải thực hiện quản lý và phân phối chi tiêu sao cho có hiệu quả. Đó cũng là một tất yếu khách quan.

2.2. Vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường

Việt Nam đã lựa chọn cho mình mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; thực hiện “Tăng trưởngkinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”, góp phần đảm bảo “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Như vậy, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam đòi hỏi Chính phủ không chỉ thực hiện nguyên tắc hỗ trợ – tương hợp với thị trường mà yêu cầu Nhà nước cùng một lúc phải thực hiện nhiều vai trò khác nhau. Bên cạnh vai trò xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo dựng và cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường kinh doanh, hạn chế những khuyết tật của cơ chế thị trường, nhà nước còn phải thực hiện cả chức năng sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh và công bằng xã hội cho người dân, đảm bảo cho sự phát triển tối đa yếu tố con người.

Vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế của Chính phủ thể hiện ở những nội dung cụ thể sau:

Một là, Chính phủ phải khơi dậy và bảo vệ các yếu tố của thị trường, thúc đẩy cạnh tranh có hiệu quả tạo sự hỗ trợ cần thiết cho nền kinh tế thị trường phát triển:

– Đảm bảo sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội và thiết lập khuôn khổ luật pháp để tạo môi trường thuận lợi cần thiết cho các hoạt động kinh tế.

– Đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, hạn chế độc quyền, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển theo hướng bền vững.

– Chính phủ trong nền kinh tế thị trường đóng vai trò rất lớn trong việc ổn định nền kinh tế vĩ mô. Thông qua những chính sách tài chính và chính sách tiền tệ sẽ giúp bình ổn giá cả, giảm lạm phát, thúc đẩy nền kinh tế hoạt động một cách hiệu quả.

– Thực hiện các chính sách an sinh và công bằng xã hội, nâng cao mức sống của các nhóm dân cư có thu nhập thấp nhất, bảo vệ các thành viên của xã hội trước những biến cố bất thường về kinh tế, xã hội. Điều này đòi hỏi Chính phủ phải thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân hợp lý; các chính sách về bảo hiểm xã hội, phúc lợi xã hội và các chính sách xã hội khác.

– Bảo vệ môi trường và phòng chống biến đổi khí hậu. Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất trước những hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu cả về kinh tế, xã hội, do đó, Chính phủ cần phải có những chính sách nhằm khuyến khích nền kinh tế thực hiện sản xuất và tiêu dùng “xanh”, đồng thời hỗ trợ người dân ứng phó với những tác động tiêu cực của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu.

 Hai là, Chính phủ cần phải hoạch định các chính sách kinh tế phù hợp với sự vận động của các quy luật trong nền kinh tế thị trường đồng thời phải đảm bảo được các mục tiêu kinh tế – xã hội của mình. Chính phủ định hướng cho sự phát triển toàn bộ nền kinh tế và thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển đúng định hướng lên chủ nghĩa xã hội.

Sự định hướng của Chính phủ cần theo hướng giảm can thiệp hành chính, trực tiếp, để chuyển sang phương thức can thiệp gián tiếp, có tính định hướng và giám sát nhiều hơn, tuân thủ các yêu cầu và lợi ích thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm hài hòa các lợi ích trong quá trình phát triển. Tăng cường vai trò các loại quỹ bình ổn thị trường nhằm hạn chế lạm phát, ổn định đời sống người dân.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần tăng cường quản lý và hướng dẫn toàn bộ các hoạt động kinh tế – xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua chiến lược và quy hoạch phát triển mang tính tổng thể, chính sách tài chính và tiền tệ ổn định, sự hoạt động hiệu quả của thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể để dẫn dắt nền kinh tế  – xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

2.3. Chứng minh bằng lý luận và thực tế tế vai trò quan trọng của ngân sách Nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

Để có thể đánh giá được vai trò của NSNN ta căn cứ vào những tác động của nó đối với toàn bộ nền kinh tế chính trị và xã hội của quốc gia trên nhiều góc độ khác nhau, đó cũng là căn cứ từ chức năng mà NSNN đảm nhiệm. Vai trò tổng quát của NSNN đó là: là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước, là công cụ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho kinh tế phát triển ổn định và bền vững, là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát. Cụ thể như sau:

2.3.1. Cơ sở lý luận

a, Thứ nhất: NSNN là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước

Một nhà nước ra đời, để có thể tồn tại duy trì hoạt động và thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình phải có nguồn lực tài chính để chi tiêu, thực thi các kế hoạch hành động. Đặc biệt trong thời đại kinh tế xã hội phát triển, vai trò của nhà nước ngày càng chở nên quan trọng thì hoạt động của nhà nước càng thêm phong phú, đa dạng, nhu cầu chi tiêu của chính phủ do đó mà không ngừng tăng lên cả về quy mô và phạm vi. Nguồn để phục vụ cho các hoạt động chi tiêu đó ở đâu? Chính là từ NSNN.

Nhà nước thực hiện chức năng phân phối và sử dụng nhằm duy trì một cách hiệu quả hoạt động của mình và thực hiện các chức năng kinh tế xã hội. NSNN là công cụ tài chính mà nhà nước sử dụng để thực hiện huy động, tập trung các nguồn lực tài chính quốc gia (thu nhập công) nhằm duy trì hoạt động của mình trên các mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng… NSNN là công cụ đắc lực để khai thác, động viên và tập trung các nguồn lực tài chính, đáp ứng đầy đủ kịp thời cho nhu cầu chi tiêu mà nhà nước đã dự tính và phát sinh. Bất cứ nhà nước nào cũng sử dụng NSNN trong mọi mô hình tài chính công để phục vụ cho công việc quản lý và điều hành nền kinh tế – xã hội.

NSNN được nhà nước huy động từ trong nội bộ nền kinh tế quốc dân và từ nước ngoài, từ mọi hoạt động và mọi thành phần kinh tế, dưới nhiều hình thức huy động khác nhau( thuế, phí, lệ phí bắt buộc, công trái..) trong đó thuế là công cụ chủ yếu nhất. Các loại thuế bao gồm: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhà đất, thuế tài nguyên, thuế môn bài, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Phân phối sản phẩm quốc dân theo hướng tích lũy để ổn định và phát triển kinh tế đồng thời cung cấp các nguồn vốn để thỏa mãn các yêu cầu về hàng hóa và dịch vụ công cộng mà tài chính của khu vực tư nhân không thể thực hiện được do một số đặc điểm đặc biệt của hàng hóa công.

Ngoài ra phân phối của NSNN còn đảm bảo duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo an ninh quốc phòng, giáo dục, bảo vệ môi trường…

Như vậy NSNN vừa đảm bảo duy trì, tăng cường sức mạnh của bộ máy nhà nước, vừa đảm bảo thúc đầy phát triển kinh tế, thực hiện chức năng xã hội của nhà nước đối với các lĩnh vực, các đối tượng trong nển kinh tế. Đồng thời, NSNN là công cụ để kiểm tra giám sát để bảo đảm cho các nguồn tài chính đã được huy động một cách hợp lý hay chưa, việc phân phối và sử dụng đã tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất không? Từ đó nhà nước sẽ có những biện pháp điều chỉnh, quỹ tài chính của nhà nước luôn được huy động nhanh nhất, chính xác hợp lý nhất, đảm bảo nguồn lực cho việc duy trì tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước.

b, Thứ hai: NSNN là công cụ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho kinh tế phát triển ổn định và bền vững

Với chức năng phân bổ nguồn lực tài chính thông qua quá trình tạo lập và sử dụng quỹ công, tài chính công tác động đến việc phân bổ và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính trong toàn bộ nền kinh tế. Công cụ thuế với các mức thuế suất và ưu đãi khác nhau đối với từng loại sản phẩm ngành nghề vùng lãnh thổ … tài chính công có vai trò định hướng đầu tư điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế kích thích hoặc hạn chế phát triển sản xuất kinh doanh theo từng loại sản phẩm. Với việc phân bổ nguồn tài chính cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đầu tư vào các ngành nghề then chốt các công trình mũi nhọn hỗ trợ tài chính cho các thành phần kinh tế trong các trường hợp cần thiết như trợ giá trợ cấp … tài chính công góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh hình thành và hoàn thiện cơ cấu sản xuất cơ cấu kinh tế nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Cùng với việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng tài chính công còn có vai trò quan trọng trong việc bình ổn kinh tế vĩ mô như : đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, duy trì việc sử dụng lao động ở tỷ lệ cao, hạn chế sự tăng giá đột ngột đồng loạt và kéo dài …Vai trò này được thực hiện thông qua các biện pháp như tạo lập và sử dụng quỹ dự trữ quốc gia, quỹ hỗ trợ việc làm điều chỉnh thuế điều chỉnh chi tiêu chính phủ, phát hành trái phiếu …

c, Thứ ba: NSNN là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát

Chúng ta biết rằng, trong cơ chế thị trường, mọi hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh chủ yếu của các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế chủ yếu tuân theo sự điều tiết của các quy luật vốn có của thị trường. Nhận thức được điều đó, Nhà nước ta đã có những cơ chế, chính sách hạn chế sự can thiệp và kiểm soát trực tiếp đối với các hoạt động kinh tế, nhất là các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nước ta với chức năng của mình là thực hiện quản lý hành chính kinh tế bằng các công cụ pháp luật, kế hoạch hoá và các chính sách do Nhà nước ban hành tuân theo pháp luật hiện hành do cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội ban hành. Đó chính là sự đổi mới cơ bản về cơ chế quản lý của Nhà nước ta: từ chỗ quản lý, điều hành nên kinh tế một cách trực tiếp đến chỗ quản lý và điều hành mọi hoạt động kinh tế- xã hội

thông qua việc tạo mọi điều kiện, môi trường, hành lang (trong đó có cả hành lang pháp lý) để cho nền kinh tế phát triển vừa tuân theo qui lụt kinh tế khách quan, vừa bảo đảm sự định hướng XHCN, nhằm nhanh chóng đạt được các mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra trong các kỳ đại hội.

Trong tất cả các công cụ để quản lý mọi hoạt động kinh tế- xã hội, Nhà nước ta hết sức quan tâm đến công cụ NSNN, vì nó là yếu tố vật chất vô cùng quan trọng trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Với cơ chế cũ trước đây, Nhà nước can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế vi mô. Trong cơ chế mới- cơ chế thị trường các vấn đề của kinh tế sẽ được giải quyết theo qui luật của thị trường và các quan hệ cung- cầu. Nhà nước chỉ dùng các biện pháp về thuế, các khoản chi ngân sách để can thiệp nhằm ổn định nên kinh tế và phát triển theo mục tiêu đã định.

Hoạt động của NSNN gắn với hoạt động của nền kinh tế thị trường, do đó thu NSNN luôn luôn biến đổi và phụ thuộc vào nhịp độ phát triển kinh tế và hiệu quả kinh tế. Xu hướng chung là khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ làm tăng khả năng tăng khối lượng thu và ngược lại. Tuy nhiên, điều cần lưu ý ở đây là mức thu NSNN phải gắn với nhịp độ tăng của nền kinh tế, nếu tận thu quá mức sẽ dẫn tới tình trạng suy thoái do không kích thích được sản xuất và đầu tư.

Trong bất kỳ tình huống nào, sức ép chi luôn luôn là gánh nặng cho NSNN. Đặc biệt là trong giai đoạn đầu khi mà nền kinh tế chưa kịp phát triển, trong khi đó phải nhanh chóng giải quyết nhiều vấn đề bức xúc của xã hội. Bên cạnh đó chi NSNN còn bị sức ép của tình trạng có lạm phát cao xẩy ra. Khi có lạm phát cao thì khối lượng ngân sách tăng chậm hơn nhu cầu chi, vì vậy nếu xử lý không tốt sẽ dẫn đến rối loạn, gây thiệt hại về nhiều mặt cho nền kinh tế.

Tóm lại, NSNN có vai trò vô cùng quan trọng. Bởi lẽ NSNN có chức năng huy động nguồn lực tài chính để hình thành các quỹ tiền tệ tập trung, đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Đồng thời NSNN còn thực hiện cân đối bằng tiền giữa các khoản thu và các khoản chi tiêu của Nhà nước. Đây là vai trò cơ bản của NSNN mà bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thực hiện

* Về mặt kinh tế:

Nhằm đảm bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu kỳ kinh doanh. Trước xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế, thông qua quỹ ngân sách, Chính phủ có thể áp dụng các chính sách ưu đãi, đầu tư vào các lĩnh vực mà tư nhân không muốn đầu tư vì hiệu quả đầu tư thấp; hoặc qua các chính sách thuế bằng việc đánh thuế vào những hàng hoá, dịch vụ của tư nhân có khả năng thao túng trên thị trường; đồng thời, áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với những hàng hoá mà Chính phủ khuyến dụng. Nhờ đó mà có thể đảm bảo sự cân đối, công bằng trong nền kinh tế. Giá cả trên thị trường biến động dựa vào quy luật cung cầu của hàng hoá, dịch vụ. Ngân sách nhà nước cũng được sử dụng như là công cụ đảm bảo sự ổn định giá cả của thị trường. Chẳng hạn, khi Chính phủ muốn bảo hộ cho những người có thu nhập thấp, Chính phủ sẽ đặt giá trần là mức giá cao nhất mà người bán được phép đưa ra và mức này thường là thấp hơn mức giá cân bằng trên thị trường, khi đó tất yếu sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trên thị trường. để duy trì hiệu lực của giá trần thì Chính phủ lại tiếp tục can thiệp bằng cách cung phần thiếu của hàng hoá, lượng hàng hoá này được lấy từ quỹ dự trữ của Nhà nước thuộc ngân sách nhà nước, tức là trong khoản chi ngân sách phải có khoản dự phòng này. Trái lại khi Chính phủ muốn bảo hộ cho người sản xuất, muốn hàng hoà của một ngành nào đó được khuyến khích thì sẽ đặt giá sàn là mức giá thầp nhất mà người bán được phép đưa ra và mức này thường lớn hơn giá cân bằng trên thị trường. Điều này sẽ dẫn đến sự dư thừa hàng hoá trên thị trường và khi đó là sự can thiệp của Chính phủ bằng cách mua hết lượng hàng thừa. Khoản tiền sử dụng để thanh toán cho người bán cũng là từ ngân sách nhà nước.

* Về mặt thị trường:

Cơ chế thị trường kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ. Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng động, phát huy được các nguồn lực của xã hội vào phát triển kinh tế.

Cạnh tranh buộc nhà sản xuất phải hao phí lao động cá biệt đến mức thấp nhất có thể được bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, nhờ đó mà thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng và số lượng hàng hoá.

Sự tác động của cơ chế thị trường đưa đến sự thích ứng tự phát giữa khối lượng và cơ câú sản xuất với khối lượng và cơ cấu nhu cầu xã hội, nhờ đó có thể thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và sản xuất về hàng ngàn, hàng vạn loại sản phẩm khác nhau.

Trong cơ chế thị trường tồn tại sự đa dạng của các thị trường. Bên cạnh thị trường hàng hoá đã xuất hiện từ lâu là các thị trường về vốn, lao động… phục vụ cho sản xuất kết hợp với hệ thống giá cả linh hoạt vận động theo quan hệ cung cầu của hàng hoá, dịch vụ.

* Về mặt xã hội:

Bất công, ô nhiễm môi trường…Chẳng hạn trước vấn đề công bằng xã hội. Chống lại sự bất công là cần thiết cho một xã hội văn minh và ổn định, Chính phủ thường sử dụng các biện pháp tác động tới thu nhập để thiết lập lai sự công bằng xã hội. Điều chỉnh thu nhập của các nhóm dân cư khác nhau bằng cách trợ cấp thu nhập cho những người có thu nhập thấp hoặc hoàn toàn không có thu nhập. Một cách khác, Chính phủ có thể sử dụng biện pháp tác động gián tiếp đến thu nhập bằng cách tạo khả năng tạo thu nhập cao hơn dựa vào năng lực của bản thân. theo đánh giá thì đây là biện pháp tích cực nhất, đồng thời làm tăng thu nhập quốc dân; nói cách khác, nó làm cho một số người dân giàu lên mà không ai nghèo đi; hoặc qua chính sách thuế thu nhập, sử dụng mức thuế suất cao đối với người có thu nhập cao và ngược lại.

* Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát:

– Vai trò của NSNN góp phần ổn định thị trường giá cả thị trường:

Giá cả trên thị trường biến động dựa vào quy luật cung cầu của hàng hóa, dịch vụ. NSNN được sử dụng như là công cụ đảm bào sự ổn định giá cả của thị trường. Chẳng hạn, khi Chính phủ muốn bảo hộ cho những người có thu nhập thấp, Chính phủ sẽ đặt giá trần là mức cao nhất mà người bán được phép đưa ra và mức này thường là thấp hơn mức giá cân bằng trên thị trường, khi đó tất yếu sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trên thị trường. Để duy trì hiệu lực của giá trần thì Chính phủ lại tiếp tục can thiệp bằng cách cung phần thiếu của hàng hóa, lượng hàng hóa này được lấy từ quỹ dự trữ của Nhà nước thuộc NSNN, hay chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong các trường hợp cần thiết:

+ Hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn: quyết định số 55/2007/QĐ- TTg

+ Quyết định 289/QĐ- TTg và quyết định 965/QĐ- TTg hỗ trợ ngành thủy sản và ngư dân…

– Vai trò của NSNN trong kiềm chế lạm phát:

Vừa qua, ngày 22/4/2013 Cục Thống kê Tp.HCM vừa công bố CPI tháng 4/2013 trên địa bàn thành phố giảm 0,33% so tháng trước, đánh dấu mức thấp nhất trong số các tháng 4 kể từ năm 2000.

Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tại Tp.HCM

(Nguồn: Cục Thống kê Tp.HCM)

Chống lạm phát là một nội dung quan trọng trong quá trình điều chỉnh thị trường. Nguyên nhân gây ra và thúc đẩy lạm phát có nhiều và xuất phát từ nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thu, chi tài chính của Nhà nước. Chính vì vậy, Ngân sách nhà nước được nhìn nhận như một công cụ góp phần khống chế và đẩy lùi lạm phát. Về mặt tổng hợp thì vai trò này của NSNN thể hiện ở tất cả các mặt thu, chi và cân đối NSNN.

Đối với các khoản chi NSNN kiềm chế lạm phát thông qua các khoản chi tiêu dùng và chi cho đầu tư:

Thứ nhất: Với các khoản chi tiêu dùng để kiềm chế lạm phát Chính phủ tăng cường các khoản tiêu dùng của Nhà nước, được thực hiện thông qua các biện pháp tăng cường chi thường xuyên, chủ yếu là tăng chi mua sắm trang thiết bị của bộ, ngành. Điều này có liên quan chặt trẽ đến bội chi NSNN, đến hậu quả quản lý chi NSNN.

Thứ hai: Với các khoản chi đầu tư để kiềm chế lạm phát Chính phủ đã tăng tập trung đầu tư vào Nhà nước. Việc kích cầu thông qua tăng khối lượng đầu tư có 2 loại: Loại đầu tư có khả năng tạo ra cung và loại đầu tư không có khả năng tạo thêm cung mới cho nền kinh tế. Loại đầu tư có khả năng tạo thêm cung (đầu tư xây dựng nhà ở cho thuê, xây dựng cơ sở hạ tầng cho thuê như đường giao thông…) làm cho tổng cung của nền kinh tế tăng lên, cân đối cung cầu được cải thiện, từ đó lạm phát được kiềm chế.

Bên cạnh đó việc đổi mới cơ cấu ngân sách, tăng tỉ trọng các khoản chi đầu tư, đổi mới hệ thống thuế, đảm bảo mức động viên hợp lý và khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển… đã đảm bảo sự thành công của công cuộc đấu tranh chống lạm phát.

=> Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường. Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường, dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp từ ngành này sang ngành khác, từ địa phương này sang địa phương khác. Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tế phát triển không cân đối. Do đó, để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng nhà nước phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường nhằm bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ ngân sách nhà nước dưới các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá và dự trữ tài chính. Đồng thời, trong quá trình điều tiết thị trường ngân sách nhà nước còn tác động đến thị trường tiền tệ và thị trường vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính như: phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường vốn… qua đó góp phần kiểm soát lạm phát.

* Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất:

Để định hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước sử dụng công cụ thuế và chi ngân sách. Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khác nhà nước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những vùng những lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định. Đồng thời, với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào các ngành kinh tế mũi nhọn… nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý.

* NSNN là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư:

Nền kinh tế thị trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư. Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập luỹ tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt (Ví dụ: thuế tiêu thụ đặc biệt thuế suất 75% đối với rượu từ 40 độ trở lên, thuế suất 15% đối với rượu thuốc. Bia chai, bia hộp, bia tươi thuế suất 75% trong khi bia hơi thuế suất là 30% …). Một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao. Bên cạnh công cụ thuế, với các khoản chi của ngân sách nhà nước như chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội: phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình… là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp .

2.3.2. Cơ sở thực tiễn

a, Thứ nhất: NSNN là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước

* Trước đổi mới:

Yêu cầu rất to lớn và khẩn trương của nền tài chính quốc gia trong thời kỳ cả nước có chiến tranh với những nhiệm vụ đặc biệt là vừa tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chiến đấu chống xâm lược được phản ánh tập trung qua quan hệ cân đối thu chi ngân sách Nhà nước.

Sự cố gắng của nhân dân ta trong việc duy trì và phát triển kinh tế, trong việc động viên tài lực cho kháng chiến thật là to lớn, nhưng vẫn không vượt qua được sự hạn chế nghiệt ngã của chiến tranh, nên số thu trong nước dù tăng lên đáng kể, vẫn còn khoảng cách rất xa so với yêu cầu. Cân đối ngân sách Nhà nước chủ yếu dựa vào viện trợ và vay nợ là nét đặc thù của tài chính nước ta trong chiến tranh. Đặc điểm này vừa phản ánh tính tất yếu lịch sử, vừa là một yếu tố có thể dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng trong chiến tranh, khi nguồn viện trợ đặc biệt cho chiến tranh không còn nữa mà nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân chưa có cơ sở tăng lên kịp đề bù đắp.

Bội chi là điều khó tránh khỏi, do hoàn cảnh có chiến tranh, nhưng việc tăng chi và tăng bội chi có phần bắt nguồn từ một số sai lệch trong quản lý, phân phối, sử dụng ngân sách Nhà nước.

Trước những yêu cầu bức bách của sản xuất và chiến đấu, nhiều khi đã chi dùng tiền của thiếu tính toán, có tư tưởng làm được việc bằng bất cứ giá nào, từ đó phát sinh tình hình buông lỏng, tùy tiện, thiếu trách nhiệm, gây mất mát, lãng phí lớn. Mặt khác, với nguồn viện trợ không hoàn lại rất to lớn, ta đã có những mặt sử dụng không chặt chẽ, không hợp lý, như trong việc nhập thiết bị vật tư, kỹ thuật, nhiều trường hợp nhập quá số lượng cần thiết, nhập cả những loại không thích hợp hay đã lạc hậu hoặc chưa có điều kiện sử dụng trong việc phân phối vật tư, thiết bị cho sản xuất và chiến đấu thì lại tính với giá thấp, khiến cho người sử dụng cố tranh thủ nhận được càng nhiều càng tốt, sử dụng tùy tiện, lãng phí, ít quan tâm đến tiết kiệm và hiệu quả, làm triệt tiêu hiệu lực của những cố gắng tăng cường chế độ hạch toán kinh tế trong quá trình cải tiến quản lý.

Nhìn chung lại, trong thời kỳ 1966 – 1975, tài chính đã bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng đề ra, cố gắng tăng nguồn thu để bảo đảm nhu cầu chi to lớn, khẩn trương trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, phức tạp của sự nghiệp chống ngoại xâm đi đôi với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nên đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của cả nước.

Trải qua thử thách, nền tài chính đã trưởng thành thêm một bước trọng. Đây là thời kỳ có nhiều bổ sung, cải tiến về chính sách và cơ chế quản lý vừa đáp ứng nhu cầu của chiến tranh, vừa phù hợp với nhiệm vụ tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Với hệ thống đã xây dựng hoàn chỉnh trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) bao gồm đủ năm khâu (ngân sách Nhà nước, tài chính xí nghiệp, tín dụng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm Nhà nước), tài chính nước ta trong thời kỳ 1966 – 1975 đã mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao tầm vóc của ngân sách Nhà nước, kể cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, phát triển đáng kể các nghiệp vụ bảo hiểm, tăng cường công tác tín dụng trong sự kết hợp, phối hợp chặt chẽ với ngân sách Nhà nước; đặc biệt là đã cải tiến quản lý theo hướng nâng cao trình độ hạch toán kinh tế, nhằm mục tiêu tiết kiệm và hiệu quả cao trong việc sử dụng nguồn vốn của Nhà nước, của các cơ sở kinh tế quốc doanh cũng như tập thể, trung ương cũng như địa phương.

Nhưng mặt khác, chịu sự tác động sâu sắc của chiến tranh, nền tài chính phải gánh chịu những hậu quả nặng nề để lại cho thời kỳ sau. Đó là tình trạng bội chi ngân sách; là sự buông lỏng quản lý mà những cố gắng đấu tranh để giữ nề nếp, kỷ cương trong quá trình chiến tranh chỉ có tác dụng hạn chế, chứ không khắc phục được triệt để; là sự hẫng hụt lớn về nguồn thu khi mà viện trợ đặc biệt trong chiến tranh không còn; là chế độ bao cấp vốn đã có mầm mống từ trước, lại được nuôi dưỡng bằng chế độ chi tiêu đặc biệt cho các nhu cầu của chiến tranh, nhiều khi mang tính chất vô điều kiện, bảo đảm được việc bằng mọi giá để đánh thắng kẻ thù, làm cho tư tưởng bao cấp, tính ỷ lại và thiếu trách nhiệm ăn sâu, bám rễ vào các ngành, các cấp.

* Sau đổi mới:

Nhà nước ban hành các loại thuế

Ví dụ: Ngày 6-12-2012, Tổng cục Thuế ban hành công văn số 4367/TCT-CS về việc thu thuế môn bài năm 2013. Theo đó, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh tiếp tục thực hiện bậc thuế môn bài đã xác định khi lập bộ thuế môn bài năm 2012 để thu thuế môn bài năm 2013.

Trong năm 2013, đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế môn bài của năm 2013 theo 6 mức như sau: Có thu nhập trên 1,5 triệu đồng/tháng, nộp thuế môn bài cả năm là 1 triệu đồng; thu nhập từ 1 – 1,5 triệu đồng/tháng, nộp thuế môn bài cả năm là 750.000 đồng; thu nhập từ trên 500.000 đồng – 750.000 đồng/tháng, nộp thuế môn bài cả năm là 500.000 đồng; thu nhập trên 300.000 – 500.000 đồng/tháng, nộp thuế môn bài cả năm là 100.000 đồng và có thu nhập từ 300.000 đồng/tháng trở xuống, nộp thuế môn bài cả năm là 50.000 đồng.

Riêng đối với những hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có biến động lớn về tình hình kinh doanh hoặc mới bắt đầu kinh doanh trong năm 2013 thì Cục Thuế căn cứ vào quy định về thuế môn bài và tình hình thực tế địa phương để xác định bậc môn bài năm 2013 cho phù hợp.

Đối với các tổ chức kinh tế (Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân, Hợp tác xã,…) vẫn nộp thuế môn bài theo 4 mức: 3 triệu đồng/năm nếu có vốn đăng ký trên 10 tỷ đồng, 2 triệu đồng/năm nếu có vốn đăng ký từ 5 – 10 tỷ đồng, 1,5 triệu đồng/năm nếu có vốn đăng ký từ 2 – dưới 5 tỷ đồng và 1 triệu đồng/năm nếu có vốn đăng ký dưới 2 tỷ đồng.

Thời hạn nộp thuế môn bài của năm 2013 đối với các tổ chức kinh tế, hộ kinh doanh và cá nhân đang kinh doanh chậm nhất đến ngày 30/01/2013.

=> Thuế môn bài là nó có giá trị chỉ dẫn cho thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt. Mọi tổ chức, cá nhân muốn kinh doanh đều phải đăng ký kinh doanh và nộp thuế môn bài. Vì thế, thuế môn bài có tác dụng kiểm kê, kiểm soát, các cơ sở kinh doanh nhằm hỗ trợ cho việc hành thu các loại thuế có số thu cao như thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng.

Cung ứng hàng hóa dịch vụ công mà tư nhân không làm hoặc không được phép làm

Ví dụ: – Chế tạo vũ khí, thuốc nổ không thể để tư nhân làm vì nó ảnh hưởng đến tình hình chính trị, an ninh quốc gia.

– Xây dựng đường sắt, cứu hỏa…vì những hình thức này không mang lại lợi nhuận cao mà các khu vực tư lại đặt lợi nhuận lên trên hết nên họ sẽ không đầu tư vào lĩnh vực này=> Nhà nước bắt buộc phải thực hiện.

Đảm bảo an ninh – quốc phòng

Ví dụ: Nhằm mục tiêu củng cố chính sách tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát; chi tiêu công tiết kiệm, hiệu quả; kiểm soát chặt chẽ và minh bạch thu, chi ngân sách Nhà nước…, ngày 19/06/2012, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 99/2012/TT-BTC hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách Nhà nước năm 2013.

Theo đó, Bộ Tài chính yêu cầu các ban, ngành liên quan bố trí dự toán chi ngân sách Nhà nước năm 2013 (bao gồm chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi cải cách tiền lương) đối với lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề đạt 20% tổng chi ngân sách Nhà nước; lĩnh vực văn hóa thông tin đạt tối thiểu 1,8%; lĩnh vực khoa học và công nghệ đạt tối thiểu 2% và hoạt động sự nghiệp bảo vệ môi trường trên 1% tổng chi ngân sách Nhà nước…

Ví dụ: Để phòng chống chiến tranh và bảo vệ chủ quyền dân tộc năm 2004, Việt Nam ký hợp đồng với Nga mua 400 tên lửa hành trình chống tàu cận âm Kh-35 Uran E. Số tên lửa này được dùng cho khinh hạm Gepard 3.9 và tàu hộ tống tên lửa Project 1241RE, Project 1241.8. Việc chuyển giao được thực hiện trong giai đoạn năm 2008 –2012. Trong năm 2012, ta đã nhận 108 quả trong hợp đồng.

Tàu Project 1241RE

 

 

 

 

 

b, Thứ hai: NSNN công cụ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho kinh tế phát triển ổn định và bền vững.

* Trước đổi mới:

Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp

Trước đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta là cơ chế kế hoạch hóa tập trung với những đặc điểm chủ yếu là:

Thứ nhất, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chi tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao. Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương… đều do các cấp có thẩm quyền quyết định. Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước. Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu.

Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất đối với các quyết định của mình. Những thiệt hại vật chất do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách Nhà nước phải gánh chịu.

Hậu quả do hai điểm nói trên mang lại là cơ quan quản lý nhà nước làm thay chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Còn các doanh nghiệp vừa bị trói buộc, vì không có quyền tự chủ, vừa ỷ lại vào cấp trên, vì không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất.

Thứ ba, quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu. Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát – giao nộp”. Hạch toán kinh tế chỉ là hình thức.

Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động vừa sinh ra đội ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu.

Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:

+ Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn giá trị thực của chúng nhiều lần so với giá trị thị trường. Với giá thấp như vậy, coi như một phần những thứ đó được cho không. Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức.

+ Bao cấp qua chế độ tem phiếu (tiền lương hiện vật): Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên, công nhân theo định mức qua hình thức tem phiếu. Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động.

+ Bao cấp qua chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn. Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin cho”.

Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng thì cơ chế này có tác dụng nhất định, nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào mục đích chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa theo xu hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Nhưng nó lại thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học – công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộ những khiếm khuyết của nó, làm cho kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó có nước ta, lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.

Trước đổi mới, do chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, chúng ta xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu; coi thị trường chỉ là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch. Không thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, lấy kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu, muốn nhanh chóng xóa sở hữu tư nhân và kinh tế cá thể tư nhân; xây dựng nền kinh tế khép kín. Nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.

* Sau đổi mới

Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

Dưới áp lực của tình thế khách quan, nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, chúng ta đã có những bước cải tiến về nền kinh tế theo hướng thị trường, tuy nhiên còn chưa toàn diện, chưa triệt để. Đó là khoán sản phẩm trong nông nghiệp theo chỉ thị 100 – CT/TW của Ban Bí thư Trung ương khóa IV; bù giá vào lương ở Long An; Nghị quyết TW8 khóa V (1985) về giá – lương – tiền; thực hiện Nghị định 25 và Nghị định 26 – CP của Chính phủ… Tuy vậy, đó là những căn cứ thực tế để Đảng đi đến quyết định thay đổi cơ chế quản lý kinh tế.

Đề cập sự cần thiết đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đại hội VI khẳng định: “Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không tạo được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội”. Chính vì vậy, việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trở thành nhu cầu cần thiết và cấp bách.

Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI họp từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 năm 1986 tại Hà Nội (họp trù bị từ ngày 5 đến ngày 14 tháng 12 năm 1986) đã đưa ra phương hướng đổi mới:

Đổi mới về kinh tế

– Xóa bỏ kinh tế bao cấp, thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

– Đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế: cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.

– Đổi mới về nội dung và cách thức công nghiệp hóa, thực hiện 3 chủ trương kinh tế:

+ Sản xuất lương thực, thực phẩm

+ Sản xuất hàng tiêu dùng

+ Sản xuất hàng xuất khẩu

Đổi mới về chính trị

– Đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng, đổi mới quản lý và điều hành của nhà nước cho phù hợp với cô cấu và cơ chế kinh tế mới.

– Đổi mới về quan hệ hợp tác quốc tế theo hướng mở, kêu gọi hợp tác và đầu tư nước ngoài.

Các đặc trưng của kinh tế Việt Nam hiện nay:

– Hệ thống kinh tế

Theo cách xác định hiện nay của chính phủ, Việt Nam có các thành phần kinh tế sau: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

– Cơ cấu kinh tế

Kinh tế Việt Nam được chia thành 3 khu vực (hay còn gọi 3 ngành lớn) kinh tế, đó là: 1) nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; 2) công nghiệp (bao gồm công nghiệp khai thác mỏ và khoáng sản, công nghiệp chế biến, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất và phân phối khí, điện, nước); 3) thương mại, dịch vụ, tài chính, du lịch, văn hóa, giáo dục, y tế.

c, Thứ ba: NSNN là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát

* Trước đổi mới:

– Giai đoạn 1976 – 1980: Giai đoạn này đất nước đã được giải phóng, 2 miền có hai hệ thống chính trị, kinh tế khác nhau được thống nhất lại. Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung được áp dụng trên phạm vi cả nước đã không mang lại hiệu quả như mong muốn. Vì vậy, Đảng ta đã kịp thời điều chỉnh lại cơ chế chính sách kinh tế.

Đưa chính sách khoán vào áp dụng trong nông nghiệp

Về chế độ phân cấp ngân sách đã có sự thay đổi nới lỏng dần chế độ quản lý ngân sách tập trung, mở rộng dần quyền hạn quản lý ngân sách cho các địa phương. Các nguồn thu ngân sách trong giai đoạn này có sự thay đổi về cơ cấu

+ Thu ngoài nước ngày càng giảm đi trong đó thu viện trợ giảm đáng kể (22,8% xuống 8%)

+ Thu từ thuế của các xí nghiệp quốc doanh giảm từ 42,1% (1978) xuống còn 32,1% (1980) do sự điều chỉnh của hệ thống giá cả dẫn đến phải tăng khoản chi bù giá hàng cung cấp.

+ Thu từ thuế của kinh tế ngoài quốc doanh, nguồn thu thuế công thương nghiệp ngày càng tăng. Điều đó phản ánh chính sách kích thích phát triển các thành phần kinh tế khác nhau của nhà nước ta.

– Giai đoạn từ 1981- 1985:

Cuối năm 1985 do sự đổi tiền dẫn đến hiện tượng lạm phát chưa từng thấy trong những năm sau đó

Các nguồn thu NSNN trong giai đoạn này tiếp tục có những thay đổi về cơ cấu

+ Thu khu vực kinh tế quốc doanh bình quân trong các năm 1981 – 1985 là 57,9% số thu ngân sách nhà nước, trong khi đó bình quân trong thời gian 1976 -1980 là 48USD tăng 9,9%.

+ Thu khu vực kinh tế ngoài quốc doanh bình quân trong các năm 1981- 1985 là 14,3% tổng số thu ngân sách nhà nước. Nguồn thu ngoài nước tiếp tục giảm xuống. Bình quân trong thời kỳ 1976 – 1980 là 38,2% tổng số thu NSNN, nhưng trong giai đoạn 1981 – 1985 chỉ còn 22,5%.

Về chi NSNN trong thời kỳ từ 1981 – 1985 đã thực hiện các cơ chế chính sách sau:

+ Trợ cấp khó khăn theo tỷ lệ lương cho công nhân viên chức nhà nước bì giá hàng cung cấp. Trong thời kỳ 1981 – 1985 đã có mầm mống những nhân tố không ổn định trong việc phát triển kinh tế, cụ thể là: Bội chi NSNN 1985 so với năm 1981 tăng 17,8 lần. Bội chi tiền mặt năm 1985 so với 1981 là 12,5 lần, chỉ số giá trị thị trường năm 1985 tăng 110,9%. Tình trạng nói trên thể hiện rõ nét nhất trong việc thực hiện tăng đồng bộ giá lương, tiền dẫn đến tình trạng siêu lạm phát trong giai đoạn tiếp theo

* Sau đổi mới:

Từ khi bước sang nền kinh tế thị trường, vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước được nâng lên một cách rõ rệt. Nhà nước đã sử dụng công cụ ngân sách của mình và công cụ chính sách tài chính tiền tệ để điều tiết nền kinh tế, đưa nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển và ổn định. Mức thu nhập của người dân ngày càng tăng, lạm phát trong thập niên qua giảm đi rõ rệt, xuất khẩu tăng…

– Về mặt xã hội:

Trong năm 2009, cùng với việc bảo đảm đủ nguồn lực và tăng cường chỉ đạo thực hiện các chính sách, chương trình, dự án đã có, đã sửa đổi bổ sung và ban hành nhiều chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội mới như: hỗ trợ người nghèo ăn Tết và người lao động mất việc; trợ cấp khó khăn cho cán bộ công chức có thu nhập thấp trong 4 tháng đầu năm; hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo; triển khai chương trình giảm nghèo ở 62 huyện; hỗ trợ khuyến nông, khuyến ngư ở địa bàn khó khăn; xây dựng các công trình cấp nước trên các đảo có đông dân cư, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ lãi suất vay mua vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn; xây dựng ký túc xá cho sinh viên; chính sách xây dựng nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung, người có thu nhập thấp ở đô thị điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu chung và tiền lương tối thiểu trong khu vực doanh nghiệp… Tổng số chi cho an sinh xã hội ước khoảng 22.470 tỷ đồng, tăng 62% so với năm 2008. Chi điều chỉnh tiền lương, trợ cấp, phụ cấp khoảng 36.700 tỷ đồng. Trợ cấp cứu đói giáp hạt và khắc phục thiên tai 41.580 tấn gạo (riêng số gạo cứu trợ đợt đầu khắc phục hậu quả bão số 9 là 10.300 tấn)…

– Về mặt thị trường:

Luật cạnh tranh trong Hiến Pháp nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2001 quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thủ tục giải quyết các vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh…

– Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát:

Vai trò điều tiết thị trường, bình ổn giá cả

Ví dụ:

– Trong tình hình thị trường giá cả còn biến động mạnh do yếu tố lễ, Tết và hàng loạt nhiên liệu thiết yếu như điện, than, xăng dầu chịu áp lực tăng giá theo lộ trình, cũng như sự tăng giá trên thị trường thế giới. Nhằm giảm bớt áp lực tăng giá, ngày 21/2/2012, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 25/2012/TT-BTC giảm thuế suất thuế nhập khẩu đồng loạt đối với nhóm hàng xăng dầu.

– Nghị định thay thế Nghị định 174/1999/NĐ-CP ngày 9/12/1999 về hoạt động kinh doanh vàng.

 

Dự thảo Nghị định sẽ được lấy ý kiến rộng rãi của các bộ, ngành, các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh vàng trong tháng 4/2011 và trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành trong quý II/2011. Nội dung các văn bản nêu trên bám sát tinh thần chỉ đạo của Đảng, Chính phủ tại Kết luận 02-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ.

Ví dụ: Do ảnh hưởng của thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài trong tháng 01/2013 và quy luật sau Tết Nguyên đán, giá cả một số hàng hóa thiết yếu như rau quả, thực phẩm tăng cao. Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ và các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về bình ổn giá cả, thị trường, thúc đẩy sản xuất, tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, chuẩn bị cho nhân dân đón Tết Nguyên đán và đã đạt được những kết quả tích cực. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 02 tăng 1,32% so với tháng trước là mức tăng thấp so với cùng kỳ nhiều năm trước. Xuất khẩu tiếp tục tăng cao, có xuất siêu. Sản xuất công nghiệp tăng khá cao so với cùng kỳ; tồn kho giảm. Sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định; sản xuất và cung ứng điện, cung ứng nguồn nước tưới tiêu được bảo đảm. Vốn FDI thực hiện tiếp tục tăng so với cùng kỳ. Khu vực dịch vụ phát triển khá; nguồn cung hàng hóa, dịch vụ được bảo đảm, góp phần ổn định giá cả thị trường, không gây tăng đột biến giá, nhất là trong dịp Tết; hoạt động du lịch, du Xuân diễn ra sôi nổi. An sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm; đời sống của người dân, đặc biệt là những người nghèo, người già neo đơn, người tàn tật được quan tâm cả về vật chất lẫn tinh thần; bảo đảm mọi người dân đều được đón Tết, vui Xuân đầm ấm; an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững; các giá trị văn hóa được bảo tồn và phát huy;…

Vai trò kiềm chế lạm phát

Ví dụ: Chính phủ đã ban hành các biện pháp cả gói về chống lạm phát của Việt Nam băng cách thắt chặt chính sách tiền tệ từ quý II năm 2008 là:

            – Ngân hàng phát hành trái phiếu kho bạc trong 2008: 20.300 tỉ VNĐ

            – Thay đổi lãi suất huy động tiền gửi để thu hút tiền trong lưu thông

            – Kiểm soát chặt chẽ, nâng cao hiệu quả chi tiêu công

            – Tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hóa.

            – Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu và giảm nhập siêu. Triệt để thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng.

            – Tăng cường công tác quản lý thị trường chống đầu cơ buôn lậu và gian lận thương mại, kiểm soát việc chấp hành pháp luật về giá.

            – Tăng cường các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân, mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội.

            – Đẩy mạnh công tác thông tin và tuyên truyền.

            (Theo nghị quyết 10/2008/NQCT-17/04/08 Nghị quyết về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững).

Ví dụ: Chỉ thị số 25/2012/CT-TTg, ngày 26/9/2012 tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá những tháng cuối năm 2012 với nội dung chủ yếu là giãn tiến độ điều chỉnh tăng giá điện và dịch vụ y tế. Chính nhờ sự chỉ đạo kiên quyết và kịp thời của Chính phủ, mà thị trường giá cả quí IV/2012 đã nhanh chóng ổn định trở lại và nguy cơ tái lạm phát cao bước đầu đã tạm thời bị đẩy lùi. Chỉ số giá tiêu dùng 3 tháng cuối năm 2012 tăng chậm trở lại, góp phần tích cực vào thành tích CPI cả năm 2012 (chỉ tăng 6,81% so với cuối năm trước và bình quân cả năm tăng 9,21%), đạt mục tiêu kiềm chế lạm phát đặt ra từ đầu năm.

Bên cạnh đó Nhà nước còn sử dụng thuế như một công cụ để kiềm chế lạm phát: Áp dụng chính sách ưu đãi  thuế nhằm giảm giá thành sản phẩm đồng thời đánh thuế cao vào các mặt hàng xa xỉ như rượu, thuốc lá…

– Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất:

Ví dụ: Các dự án của Chính phủ nhằm phát triển kinh tế – xã hội:

+ Năm 2008 dự án đường cao tốc Nội Bài- Lào Cai, dự án đường cao tốc Hà Nội- Hải Phòng

+ Quy hoạch cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Chu Lai, Đà Nẵng.

+ Dự án xây dựng cảng Cái Mép- Thị Vải, cảng trung chuyển container quốc thế Vân Phong

+ Dự án Quốc lộ 3 mới Hà Nội – Thái Nguyên có chiều dai 61,3km được chia thành 4 gói thầu xây lắp chính (PK1A dài 7km từ Gia Lâm – Đông Anh, PK1B dài 10,8km từ Đông Anh – Yên Phong, PK1C dài 9 km từ Yên Phong – Sóc Sơn và PK2 dài 34,4km từ Sóc Sơn – Thái Nguyên). Dự án có tổng mức đầu tư hơn 10 nghìn tỷ đồng…

 

Lễ khởi công dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên

– NSNN là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư:

 

 

 

 

Ví dụ: Ngày 04/6/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể, có liên quan đến nhiều các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng …  Nhằm mục tiêu là xây dựng nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái đước bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

* Kết luận

Các vai trò trên của Ngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan trọng của Ngân sách nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế . Từ sự phân tích trên đây, ta có thể hiểu được bản chất của NSNN – đó là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các thành viên trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện trong các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế – xã hội củaNhà nước. Hoạt động của NSNN luôn luôn gắn liền với thực hiện các chức năng của Nhà nước.

Từ sự phân tích trên đây, ta có thể hiểu được vai trò quan trọng của NSNN, hiểu được các mối quan hệ giữa Nhà nước với các thành viên trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện trong các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế – xã hội của Nhà nước. Hoạt động của NSNN luôn luôn gắn liền với thực hiện các chức năng của Nhà nước.

Tác giả:  Hoàng Cường

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s