Thu ngân sách Nhà nước

 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách Nhà nước? Thực trạng các nhân tố này ở Việt Nam hiện nay?

Thu Ngân sách nhà nước phản ảnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để phân phối các nguồn tài chính của xã hội dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước. Như vậy, thu ngân sách nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay nhà nước để hình thành quỹ ngân sách nhà nước đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thu ngân sách nhà nước bao gồm: thu trong cân đối ngân sách và thu bù đắp thiếu hụt của ngân sách.

Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình. Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước.

3.1. Khái quát GDP và  thực trạng GDP ở Việt Nam trong giai đoạn từ 2008 – nay

3.1.1. Khái quát về GDP

Trong kinh tế, tổng sản phẩm nội địa hay GDP là giá trị bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Khi áp dụng cho phạm vi toàn quốc gia, nó còn được gọi là tổng sản phẩm quốc nội. GDP là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nào đó.

Trên thực tế có tồn tại hai loại GDP là GDP thực tế và GDP danh nghĩa. GDP danh nghĩa chỉ tính đến tổng số tiền chi phí cho GDP thì GDP thực tế lại có tính đến các yếu tố như sự mất giá của tiền tệ để ước lượng chính xác hơn số lượng hàng hóa và dịch vụ thực sự tạo thành GDP. GDP danh nghĩa đôi khi còn được gọi là GDP tiền tệ trong khi GDP thực tế còn được gọi là GDP giá cố định hay GDP điều chỉnh lạm phát.

Thu nhập GDP bình quân đầu người: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước. Thu nhập GDP bình quân đầu người là nhân tố quyết định đến chỉ tiêu này khi xác định mức động viên của NSNN. Nếu không tính đến chỉ tiêu này khi xác định mức động viên của ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầutư của các tổ chức kinh tế, của các tầng lớp dân cư.

3.1.2. GDP Việt Nam giai đoạn 2008 – nay

* Năm 2008:

Trong bối cảnh có những biến động không thuận của thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta năm 2008 đã chậm lại, còn 6,2% so với 8,5% năm 2007. Đây là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2000. Dẫu vậy, việc đạt được mức tăng trưởng 6,2% vẫn đáng được ghi nhận, nhất là so với nhiều nước đang phát triển và trong khu vực. Đặc biệt, trong khi tăng trưởng của khu vực công nghiệp-xây dựng sụt giảm đáng kể (6,1% so với 10,2% năm 2007), thì khu vực nông-lâm-thủy sản lại có tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2007 (4,1% so với 3,8%), thể hiện ý nghĩa to lớn của khu vực này trong phát triển đất nước cũng như trong giải quyết các vấn đề xã hội trong tình hình khó khăn.

Vốn đầu tư xã hội vẫn chiếm tỷ trọng cao, bằng 40,9% GDP, tuy đã thấp hơn so với tỷ lệ 46,5% GDP năm 2007. Thương mại quốc tế năm 2008 có bước chuyển biến mới. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 62,7 tỷ USD, tăng 29,1%; tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 80,7 tỷ USD, tăng 28,6% so với năm 2007. Nước ta đã trở thành một nền kinh tế có độ mở cao xét theo tỷ trọng xuất nhập khẩu trên GDP (160,7% GDP và 177,5% GDP nếu tính cả thương mại dịch vụ). Tuy nhiên, thương mại dịch vụ chưa thật phát triển, năm 2008 chỉ bằng 10,5% thương mại hàng hóa, mức thấp hơn nhiều tỷ lệ trên 20% của thế giới. Cũng đã bắt đầu xuất hiện xu thế đa dạng hóa mặt hàng để đối phó với rủi ro trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu vẫn phụ thuộc vào các nhóm hàng khoáng sản và nông – lâm – thủy sản thô, sơ chế; hàng công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn là gia công lắp ráp.

Tốc độ tăng trưởng giảm đồng nghĩa với tình trạng doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, cắt giảm lao động. Vào tháng 7/2008, tổng số người thất nghiệp ở thành thị tăng 2,7% so với năm 2007, đưa tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị lên 4,7% so với 4,6% năm 2007. Con số người thất nghiệp, mất việc làm và phải giảm giờ làm còn tăng cao hơn nữa trong nửa cuối năm 2008. Hơn nữa, lạm phát cao càng làm giảm thu nhập thực của đa số dân cư và có tác động rất xấu đến nhóm người nghèo, thu nhập thấp.

* Năm 2009:

Năm 2009, kinh tế Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng 5,32%, vượt mục tiêu đề ra và đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và trên thế giới. Sản xuất công nghiệp thoát khỏi tình trạng trì trệ những tháng đầu năm và cả năm đã tăng 7,6%. Sản xuất nông nghiệp được mùa với sản lượng lúa cả năm đạt 38,9 triệu tấn, tăng 165,700 tấn so với năm 2008. Cân đối kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định.

Đầu tư trong nước cả năm đạt 7.042.000 tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2008. Thu ngân sách đạt dự toán cả năm và bội chi ngân sách bảo đảm được mức Quốc hội đề ra là không vượt quá 7% GDP. Lạm phát được kiềm chế, chỉ cố giá bình quân năm 2009 là 6,88%, thấp nhất trong 6 năm gần đây.

Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 13,4% năm 2008 xuống òn 12,3%. Văn hóa, giáo dục, y tế và nhiều lĩnh vực xã hội khác cũng đạt được những thành tích vượt trội.

* Năm 2010:

Trong điều kiện kinh tế toàn cầu hậu khủng hoảng phục hồi chậm, nhưng kinh tế Việt Nam đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm, từng bước phục hồi và tăng trưởng khá nhanh. GDP quý I tăng 5,84%; quý II tăng 6,44%; quý III tăng 7,18% và quý IV tăng 7,34%. Tính chung cả năm, GDP tăng 6,78%, cao hơn chỉ tiêu Quốc hội đề ra (6,5%), vẫn thuộc nhóm có mức tăng trưởng khá cao trong khu vực và trên thế giới, trong đó, tất cả các ngành, lĩnh vực đều đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với năm trước. Trong 6,78% tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,78%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm; công nghiệp xây dựng tăng 7,7%, đóng góp 3,20 điểm phần trăm; dịch vụ tăng 7,52%, đóng góp 3,11 điểm phần trăm. Với kết quả này, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 1160 USD.

* Năm 2011:

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2011 tăng 5,89%, thấp hơn mức tăng 6,78% của năm 2010, nhưng vẫn cao hơn 5,32% của 2009. Một số ngành như nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, giáo dục đào tạo, y tế vẫn đạt mức tăng cao hơn cùng kỳ năm trước. Cụ thể: khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 4%; công nghiệp, xây dựng tăng 5,53%; dịch vụ tăng 6,99%. Nền kinh tế nhìn chung duy trì được tốc độ tăng trưởng hợp lý.

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá ước đạt 96,3 tỷ USD, tăng 33,3% so với 2010. Hàng hoá nhập khẩu ước đạt 105,8 tỷ USD tăng 24,7%. Nhập siêu 9,5 tỷ USD, bằng 9,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, thấp hơn kế hoạch đề ra là 18%. Thu ngân sách nhà nước tăng 20,6% so với 2010, nên bội chi ngân sách mức 4,9% GDP, thấp hơn kế hoạch là 5,3%. Dự trữ ngoại hối tăng 3,5 trong quý I, lên đến 7,5 trong quý III…

Kiềm chế lạm phát, cơ bản giữ được ổn định kinh tế vĩ mô. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm tăng 18,58%, cơ bản đạt mục tiêu đề ra cả năm là 18% của Chính phủ.

Từ số liệu trên cho thấy, năm 2011 Việt Nam đảm bảo được việc làm, an sinh xã hội và giảm đói nghèo. Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,27%, thành thị 3,6%, nông thôn 1,71%. Tiêu dùng tăng 4,4%, số hộ thiếu đói giảm 21,7% so với cùng kỳ 2010.

* Năm 2012:

Tốc độ tăng trưởng GDP toàn năm 2012 dừng ở mức 5,03% thấp hơn nhiều mức 6.5% mà Chính phủ dự tính ban đầu, là mức tăng thấp nhất kể từ năm 1999. Ngành dịch vụ, với tốc độ tăng trưởng cao nhất 6,42%, đạt 2,7 điểm phần trăm, vào mức tăng trưởng chung của cả nền kinh tế. Tiếp theo là công nghiệp và xây dựng tăng 4,52%, đóng góp 1,89 điểm cho tăng trưởng chung. Nhóm ngành nông –lâm – ngư nghiệp đóng góp 0,44 điểm khi chỉ tăng 2,42%. So với năm 2011, các nhóm ngành đều có mức giảm từ 0,2 đến 0,3 điểm phần trăm. Tổng đầu tư toàn xã hội năm 2012 đạt 989,3 nghìn tỷ đồng, chỉ đạt 33,5% GDP so với 34,6% năm 2011.

* Những tháng đầu năm 2013:

Tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 4,9% trong quý I vừa qua, trong khi quý IV/2012 chỉ số này đạt 5,4%. Tổ chức Liên hợp quốc (UNDP) dự báo, nền kinh tế Việt Nam sẽ lấy lại đà tăng trưởng vào 6 tháng cuối năm và cả năm 2013 sẽ đạt mức 5,5%.

Qua việc đánh giá và mô tả thực trạng GDP từ 2008 – nay cho thấy rằng: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua là chưa bền vững, gây ra nhiều tác động tiêu cực: bất bình đẳng, chênh lệch giàu nghèo, suy thoái đạo đức, tha hóa nhân cách, khủng hoảng vệ sinh an toàn thực phẩm, lạm dụng tiền công, bóc lột lao động, sản xuất hàng giả-hàng nhái, ô nhiễm môi trường, trộm cắp tài nguyên, tham nhũng-hối lộ, cạn kiệt nguồn nước, và chất lượng cuộc sống không theo kịp tốc độ tăng GDP.

3.2.  Các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách Nhà nước:

* Thu nhập GDP bình quân đầu người:

Đây là nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN.

Chỉ tiêu thu nhập GDP bình quân đầu người phản ánh tốc độ tăng trưởng và phát triển của mỗi quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư ở mỗi nước. Thu nhập GDP bình quân đầu người là nhân tố quyết định khách quan đến mức động viên của ngân sách nhà nước. Nếu không chú ý đến nhân tố này khi động viên vào ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của tư nhân. Mỗi quốc gia tùy theo độ lớn của GDP mà xây dựng chính sách thu cho thích hợp

* Khả năng xuất khẩu khoáng sản và dầu mỏ:

Đây là yếu tố làm tăng thu NSNN, ảnh hưởng đến việc năng cao tỉ suất thu. 

Đối với các nước đang phát triển và có nguồn tài nguyên phong phú thì nhân tố này có ảnh hưởng rất lớn đến số thu ngân sách nhà nước.

Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên càng lớn càng có ảnh hưởng tới thu NSNN. Thực tế cho thấy nếu tỷ trọng của nước nào xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm 20% kim ngạch xuất khẩu trở lên thì tỷ suất thu NSNN sẽ cao và có khả năng tăng nhanh.

* Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế (hiệu quả nền kinh tế):

Tỉ suất doanh lợi = kết quả thu được / tổng chi phí bỏ ra

Phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế, tỉ suất doanh lợi càng lớn thì nguồn tài chính càng lớn, do đó thu NSNN phụ thuộc vào mức độ trang trải các khoản chi phí của nhà nước. Đó là nhân tố quyết định đến nâng cao tỉ suất thu cho ngân sách nhà nước. Dựa vào tỉ xuất doanh lợi trong nền kinh tế để xác định tỉ xuất thu sẽ tránh việc huy động của ngân sách gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Thời kỳ kinh tế suy thoái nhà nước có thể giảm thuế suất để khuyến khích đầu tư, tiêu dùng, phát triển kinh tế. Ở những nước chưa phát triển có tỉ suất lợi nhuận thấp cũng không nên huy động nhiều để bồi dưỡng nguồn thu. Thâm hụt ngân sách được giải quyết bằng vay nợ.

Trên đây là 3 nhân tố khách quan, còn 3 nhân tố tiếp theo có tính chất chủ quan.

* Mức độ và hiệu quả chi tiêu của nhà nước:

Nhân tố này phụ thuộc vào:

– Quy mô tổ chức bộ máy của nhà nước và hiệu quả của nó

– Những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà nhà nước đảm nhận trong những giai đoạn lịch sử.

– Chính sách sử dụng kinh phí của nhà nước.

Nếu 3 nhân tố kể trên như nhau, nhưng nước nào có mức độ chi tiêu của Nhà nước cao và hiệu quả chi tiêu thấp sẽ dẫn đến tỉ lệ động viên cao hơn. Các nước đang phát triển thường rơi vào tình trạng nhu cầu chi tiêu thì nhiều nhưng khả năng thu lại có hạn nên chính phủ thường phải vay nợ.

Trong điều kiện các nguồn tài trợ khác cho chi phí nhà nước có khả năng tăng thì việc gia tăng mức độ trang trải chi phí của nhà nước sẽ là một áp lực gia tăng tỉ suất thu ngân sách nhà nước.

Ở những nước nghèo, kém phát triển phần lớn đều muốn đẩy mạnh đầu tư để phát triển kinh tế mà muốn có nguồn để đầu tư thì phải tăng doanh thu, một khi tăng thu không hợp lí lại làm cho nền kinh tế phát triển chậm lại, giải quyết mâu thuẫn trong vòng lẩn quẩn này không đơn giản cho những nền kinh tế còn nhiều yếu kém, đòi hỏi nhà nước phải có những chương trình phát triển kinh tế phù hợp với những thời kì, phải thận trong khi tìm kiếm nguôn vốn cho đầu tư và phải sử dụng nó thật tiết kiệm và hiệu quả.

* Tình trạng thất thu thuế:

Thất thu thuế là một hiện tượng thực tế khách quan vốn có của bất kỳ hệ thống thuế khóa nào. Nó phản ánh hai mặt của một vấn đề: lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người nộp thuế. Trên thực tế thì hai lợi ích này thường mâu thuẫn với nhau. Nhà nước luôn có khuynh hướng tăng nguồn thu từ thuế trong khi đó người nộp thuế luôn mong muốn càng giảm số thuế phải nộp càng nhiều càng tốt. Hay nói cách khác, ở đâu có thuế khóa thì ở đó có thất thu.

Thất thu thuế biểu hiện, diễn biến rất đa dạng và phức tạp tuỳ theo điều kiện của nền kinh tế – xã hội của một quốc gia, song có thể khái quát hoá thành 2 dạng: thất thu thực tế và thất thu tiềm năng.

– Thất thu thực tế, có nghĩa là có nhiều khoản thu được quy định rõ ràng trong các luật thuế, song do nhiều nguyên nhân số tiền đó không được tập trung vào ngân sách đúng quy định.

– Thất thu tiềm năng, có nghĩa là thực tế có nhiều nguồn thu cần thiết phải động viên vào ngân sách nhưng lại không thu được vì chưa có quy định của luật pháp.

=> Thuế suất không thể quá cao và theo những chuẩn mực chung nhất định. Vì vậy nước nào có tình trạng thất thu do trốn lậu thuế càng lớn thì tỉ lệ thu thuế, tỉ lệ thu ngân sách sẽ giảm.

* Tổ chức bộ máy thu ngân sách:

Nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thu.

Bộ máy này gọn nhẹ, hiệu quả cao chỗng được thất thu do trốn, lậu thuế sẽ là nhân tố tích cực làm giảm tỉ suất thu ngân sách nhà nước mà vẫn làm giảm được nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước.

Trong từng nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước, phải được nghiên cứu phân tích một cách khoa học, tỉ mỉ trong từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để khi xây dựng chính sách thu đem lại hiệu quả tích cực nhất.

3.3.  Thực trạng các nhân tố này ở Việt Nam hiện nay

Ở Việt Nam, Đứng về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình. Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp.

Theo số liệu được Tổng Cục thuế công bố, kết quả thu ngân sách nhà nước năm 2012 do ngành Thuế quản lý ước đạt 607.844 tỷ đồng, bằng 104,5% so với dự toán, tăng 12,3% so với thực hiện năm 2011.

 

* Thu nhập GDP bình quân đầu người:

Nếu như thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tại thời điểm năm 1992 chỉ mới ở mức 140 USD thì hiện nay, thu nhập bình quân đầu người năm 2012 đã gần 1.600 USD. Như vậy, sau 20 năm phát triển, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng 11,43 lần.

Cuối năm 2011 tổng GDP của cả nước ước khoảng 119 tỷ USD và GDP đầu người đạt 1.300 USD/người/năm. Điều này có nghĩa là, trong năm 2012 GDP bình quân đầu người đã tăng 300 USD.

Trong năm 2012 tình hình kinh tế xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cụ thể, tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cả năm ước tăng 5,2%, thu nhập bình quân 1.540 USD/người/năm. Tỷ lệ thất nghiệp cho lao động thành thị khoảng 3,63%, xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt khoảng 27 tỷ USD, tăng 8% so với năm 2011. Lạm phát được kiềm chế, dự kiến cả năm khoảng 7,5%. Cán cân thương mại cân bằng, dự trữ ngoại hối đạt khoảng 12 tuần nhập khẩu, cán cân thanh toán thặng dư 8 tỷ USD.

Trong năm 2013, Việt Nam phấn đấu đạt mức tăng trưởng GDP cao hơn, lạm phát thấp hơn năm 2012. Mục tiêu tăng GDP năm 2013 khoảng 5,5% – cao hơn mức ước đạt năm nay là 5,2% và lạm phát tiếp tục được giảm xuống 6-6,5%; cán cân thanh toán được cải thiện. Kim ngạch xuất khẩu khoảng 10%, kim ngạch nhập khẩu tăng 8%, bội chi ngân sách không quá 4,8%GDP, tốc độ tăng giá tiêu dùng CPI khoảng 8%, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 3% GDP, tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động, tỷ lệ thất nghiệp thành thị không quá 4%.

Trong giai đoạn từ 2006-2010 tỉ lệ huy động bình quân vào ngân sách nhà nước dự tính từ 21-22%GDP, trong đó tỉ lệ động viên từ thuế, phí là 20-21%GDP.

* Khả năng xuất khẩu khoáng sản và dầu mỏ:

Việt Nam trong hiện tại khả năng và xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản sẽ đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên nguồn thu này sẽ giảm dần tỉ trọng trong tương lai do hạn chế xuất khẩu khoáng sản thô để chuyển sang chế biến trong nước.

Theo nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, công nghiệp khai khoáng đóng góp 10-11% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Năm 2012, tổng kim ngạch xuất khẩu các loại khoáng sản trên 9,6 tỉ đô la Mỹ, trong đó nhiều nhất vẫn là dầu thô (8,228 tỉ đô la Mỹ) và than đá (1,238 tỉ đô la Mỹ). Tuy nhiên, nếu tính cả giá trị của những ngành mà Việt Nam đã phải trả giá bằng chính những tài nguyên quý giá nhất (rừng, đất đai) để có được, thì sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tài nguyên là rất lớn.

Cho đến nay, các nhà địa chất đã phát hiện được ở Việt Nam trên 5.000 điểm mỏ với 60 loại khoáng sản khác nhau, từ khoáng sản kim loại như: đồng, chì, kẽm, sắt, mangan, crom, titan, molybden, wolfram, thiếc, bauxite… cho đến các khoáng sản phi kim loại là nguyên liệu của ngành phân bón, vật liệu xây dựng, và khoáng sản năng lượng (dầu khí, than). Tuy nhiên, do phần lớn là khai thác, sơ chế rồi xuất khẩu dưới dạng thô, nên nó không có đóng góp gì đáng kể cho sự phát triển của các ngành công nghiệp.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2009-2011, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 2,1-2,6 triệu tấn khoáng sản các loại (không kể than, dầu thô) với điểm đến chủ yếu là Trung Quốc, và chỉ mang lại giá trị 130-230 triệu đô la Mỹ. Riêng năm 2012, lượng khoáng sản xuất đi có giảm, chỉ còn gần 800.000 tấn, bằng đường chính ngạch. Nếu cộng cả số xuất lậu, xuất qua đường biên mậu, số lượng còn lớn hơn nữa. Chẳng hạn như vào năm 2008, chỉ riêng xuất lậu quặng titan ước tính đã lên đến 200.000 tấn.

Việt Nam xuất khẩu khoáng sản thô

Tính đến năm 2008, dầu khí đóng góp tới 20% ngân sách nhà nước. Mặc dù trong năm 2009 và 2010 thu từ dầu khí đã giảm đáng kể, còn tương ứng 13% và 12%, nhưng đây vẫn là nguồn thu có tỉ trọng lớn trong ngân sách nhà nước. Sự sụt giảm nguồn thu từ dầu khí trong NSNN xuất phát chủ yếu từ biến động mạnh trong giá dầu thô thế giới chứ không phải là kết quả từ gia tăng khối lượng khai thác dầu thô. Giá dầu lửa thế giới đã có sự biến động rất lớn trong thời gian vừa qua. Tính bình quân, giá dầu thô xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2011 tăng 25% so với năm 2010. Giá dầu biến động như vậy có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu ngân sách của Chính phủ.

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, trong 3 tháng đầu năm 2013, quặng và khoáng sản khác là mặt hàng duy nhất trong nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ (tăng 35,1%). Đáng chú ý, kim ngạch tăng là do lượng xuất khẩu tăng mạnh, tăng tới 228,5% bù đắp phần giảm do giá giảm 58,9%.

Cho đến nay, khai thác tài nguyên để xuất khẩu vẫn là ngành kiếm được nhiều lợi nhuận, nhưng cái lợi đó chỉ chảy vào một nhóm nhỏ doanh nghiệp. Việc khai thác ồ ạt tài nguyên và khoáng sản để xuất khẩu khiến cho nền kinh tế đã, đang và sẽ tiếp tục phải trả giá trong nhiều năm nữa.

* Tình trạng thất thu thuế:

Theo Tổng cục Thuế (TCT), qua thanh tra, kiểm tra 55.849 doanh nghiệp trong năm 2012, ngành thuế đã ra quyết định giảm lỗ 12.650 tỷ đồng, xử lý truy thu và xử phạt 12.541 tỷ đồng. Kết quả này cho thấy, bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn chân chính, đóng góp vào ngân sách nhà nước (NSNN), vẫn còn nhiều đối tượng thực hiện các hành vi gian lận nhằm giảm số thuế lẽ ra phải nộp vào NSNN.

* Tổ chức bộ máy thu ngân sách:

Hệ thống ngân sách nhà nước là tổng thể ngân sách của các cấp chính quyền nhà nước. Tổ chức hệ thống ngân sách chịu tác động bởi nhiều yếu tố mà trước hết đó là chế độ xã hội của một nhà nước và phân chia lãnh thổ hành chính. Thông thường ở các nước hệ thống ngân sách được tổ chức phù hợp với hệ thống hành chính.

Ở nước ta với mô hình nhà nước thống nhất nên hệ thống ngân sách được tổ chức theo hai cấp: ngân sách trung ương và ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, trong đó ngân sách địa phương bao gồm các cấp ngân sách: ngân sách thành phố (hay tỉnh) , ngân sách quận (huyện) , ngân sách xã (phường).

Hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung và dân chủ, thể hiện:

– Tính thống nhất: đòi hỏi các khâu trong hệ thống ngân sách phải hợp thành một thể thống nhất, biểu hiện các cấp ngân sách có cùng nguồn thu, cùng định mức chi tiêu và cùng thực hiện một quá trình ngân sách.

– Tính tập trung: thể hiện ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng. Ngân sách cấp dưới chịu sự chi phối của ngân sách cấp trên và được trợ cấp từ ngân sách cấp trên nhằm đảm bảo cân đối của ngân sách cấp mình.

– Tính dân chủ: Dự toán và quyết toán ngân sách phải được tổng hợp từ ngân sách cấp dưới, đồng thời mỗi cấp chính quyền có một ngân sách và được quyền chi phối ngân sách cấp mình.

Theo báo cáo môi trường kinh doanh 2011, của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam xếp hạng thứ 124 trong tổng số 183 quốc gia về chỉ tiêu quyết toán thuế của các doanh nghiệp, cải thiện 12 bậc so với vị trí 146 năm 2010. Tuy nhiên chỉ tiêu này của Việt Nam vẫn kém hơn so với các quốc gia trong khu vực như Malaysia (23/183), Thái Lan (91) và Singapore (4). Tính trung bình, tại Việt Nam các doanh nghiệp phải nộp thuế 32 lần trong năm, mất 14 hơn 14 ngày mỗi năm trong khi ở Singapore chỉ cần mất 4 ngày. Tổng số tiền thuế phải nộp của các doanh nghiệp ở Việt Nam chiếm tới 33,1% lợi nhuận của doanh nghiệp.

Như vậy, cùng với mức thu ngân sách cao và thủ tục hành chính rườm rà, tốn thời gian và chi phí cao, gánh nặng đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế đã trở nên khó chịu nổi, sẽ không khó để dự báo về sự đổ vỡ của một số lượng đáng kể các doanh nghiệp. Từ đó, chắc chắn ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu ngân sách Nhà nước.

c,  Một số giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện dự toán thu NSNN

Từ việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách và thực trạng các nhân tố này ở Việt Nam hiện nay tác giả đề xuất một số giải pháp sau đây:

Một là, hoàn thiện hệ thống chính sách về thu NSNN theo hướng các chính sách cần tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Triển khai thực hiện tốt các Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi), Luật thuế giá trị gia tăng (sửa đổi), Luật thuế thu nhập cá nhân với nhiều ưu đãi hơn nhằm khuyến khích, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng.

Hai là, tổ chức tốt công tác quản lý thuế. Triển khai thực hiện có hiệu quả luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, của Bộ Tài chính. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân, phát hiện ngay các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp để có các biện pháp chấn chỉnh kịp thời. Đẩy mạnh xử lý dứt điểm các khoản nợ đọng thuế. Chấn chỉnh công tác hoàn thuế, đẩy mạnh kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật về thu NSNN. Giám sát chặt chẽ việc rà soát, bãi bỏ một số quy định về phí, lệ phí, huy động đóng góp của nhân dân không đúng quy định ở các cấp, các ngành và các địa phương.

Ba là, tích cực huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, trong đó tập trung ưu tiên đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn; phát triển các công trình về cơ sở hạ tầng, tập trung nguồn lực để thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.

Bốn là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, phát triển đồng bộ các thị trường, đẩy mạnh việc thực hiện quản lý giá cả theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý điều tiết của Nhà nước, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và các đối tượng thụ hưởng; góp phần xóa bao cấp tràn lan, chống buôn lậu, khuyến khích thực hành tiết kiệm.

Năm là, đẩy mạnh việc sắp xếp, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đồng thời, mở rộng các hình thức chuyển đổi sở hữu khác nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước. Có cơ chế giám sát tài chính chặt chẽ đối với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, nhất là định hướng đầu tư và các chương trình, dự án sử dụng vốn lớn.

Sáu là, áp dụng linh hoạt chính sách tiền tệ, tỷ giá nhằm khuyến khích tối đa tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trường để tăng sản xuất trong nước nhất là đối với một số mặt hàng có thế mạnh như lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu, tăng nguồn thu cho NSNN.

Ngoài ra, các giải pháp tài chính cần được phối hợp chặt chẽ với việc thực hiện những giải pháp, chính sách trong các lĩnh vực khác đã được nêu trong Nghị quyết 10/2008/NQ-CP của Chính phủ ngày 14/4/2008 về việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững để đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu thu NSNN năm 2013 đã được phê duyệt.

KẾT LUẬN

Tài chính công có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một quốc gia. Nó là công cụ để ổn định xã hội, phát triển kinh tế đất nước. Trong các yếu tố cấu thành nguồn tài chính công thì ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng nhất. NSNN có những tác động mạnh mẽ đối với toàn bộ nền kinh tế chính trị và xã hội của quốc gia trên nhiều góc độ khác nhau cụ thể ngân sách nhà nước là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước, là công cụ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho kinh tế phát triển ổn định và bền vững, là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát.

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách Nhà nước mỗi nhân tố đều tác động quan trọng, để tăng cường ngân sách nhà nước và hạn chế mức tối đa thâm hụt ngân sách, bội chi ngân sách thì Nhà nước cần chú trọng nghiên cứu và giải quyết những nhân tố ảnh hưởng.

Qua nghiên cứu, tác giả thấy rằng hệ thống tài chính của Việt Nam tương đối ổn định và được hoàn thiện dần. Tuy nhiên cùng với mức thu ngân sách cao và thủ tục hành chính rườm rà, tốn thời gian và chi phí cao, gánh nặng đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế đã trở nên khó chịu nổi, sẽ không khó để dự báo về sự đổ vỡ của một số lượng đáng kể các doanh nghiệp. Từ đó, chắc chắn ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó vẫn còn những tình trạng thất thu thuế, trồn thuế và đặc biệt là tình trạng bội chi vẫn liên tục xảy ra và chưa có biện pháp khắc phục. GDP  tổng sản phẩm nội địa có xu hướng giảm…

Đảng và Nhà nước ta cần có kế hoạch cụ thể, đưa ra những giải pháp khắc phục khó khăn để giúp nền kinh tế – xã hội của Việt Nam phát triển ổn định và bền vững.

 Tác giả:  Hoàng Cường
 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s