Mối quan hệ giữa tài chính công và tài chính tư

 Tại sao tài chính công lại chi phối, điều khiển tài chính khu vực tư? Tài chính công chi phối, điều khiển tài chính khu vực tư như thế nào?

Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của xã hội dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tề của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định.

Tài chính công là một phạm trù kinh tế gắn với thu nhập và chi bằng tiêu của Nhà nước do Nhà nước tiến hành , là nguồn lực để giúp để Nhà nước thực hiện những chức năng vốn có của mình là công cụ để nhà nước chi phối, điều chỉnh các hoạt động xã hội nhằm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

 Tài chính công gắn liền với chủ thể thực hiện phân phối thực hiện phân phối tổng nguồn lực tài chính quốc gia . Nó phản ánh các quan hệ kinh tế biểu hiện thông qua các hoạt động thu chi bằng tiền của Nhà nước và các chủ thể công quyền.Tài chính công cung cấp hàng hóa công, dịch vụ công phục vụ cho lợi ích cộng đồng và xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu giảm thiểu các rủi ro cho nền kinh tế, khắc phục chu kỳ kinh tế. Đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững và đảm bảo yêu cầu công bằng, bình đẳng trong các hoạt động kinh tế – xã hội.

Trong sự phát triển và toàn cầu hóa, tài chính công có quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế kinh tế thị trường và đó được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế.  khi các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể biểu hiện qua mua, bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường (người bán cần tiền, người mua cần hàng và họ phải gặp nhau trên thị trường) thì nền kinh tế đó gọi là nền kinh tế thị trường.

Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao. Khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hoá, các yếu tố của sản xuất như: đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức lao động, công nghệ và quản lý, các sản phẩm dịch vụ tạo ra, chất xám đều là đối tượng mua – bán và hàng hoá.

 Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự do cạnh tranh. Doanh nghiệp muốn đứng vững được trên thị trường phải luôn luôn đổi mới về sản phẩm, về tổ chức quản lý. Do vậy, nó luôn tạo ra lực lượng sản xuất cho xã hội, tạo ra sự dư thừa hàng hoá để cho phép thoả mãn nhu cầu ở mức tối đa. Bên cạnh những ưu điểm mà thị trường mang lại  kinh tế thị trường luôn tạo ra cơ hội cho mọi người sáng tạo, luôn tìm cách để cải tiến lối làm việc và rút ra những bài học kinh nghiệm về thành công hay thất bại để phát triển không ngừng.

 

         Kinh tế thị trường tạo ra cơ chế đào tạo, tuyển chọn, sử dụng người quản lý kinh doanh năng động, có hiệu quả và đào thải các nhà quản lý kém hiệu quả. Tạo ra môi trường kinh doanh tự do, dân chủ trong kinh tế bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.

 

•  Những khuyết tật của kinh tế thị trường.

 Kinh tế thị trường là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, bảo đảm có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, dư thừa và phong phú hàng hóa. Dịch vụ được mở rộng và coi như là hàng hoá. Thị trường năng động, luôn luôn đổi mới mặt hàng, công nghệ. Tuy nhiên:

– Kinh tế thị trường chú trọng đến những nhu cầu có khả năng thanh toán, không chú ý đến những nhu cầu cơ bản của xã hội.

– Kinh tế thị trường, đặt lợi nhuận lên hàng đầu , cái gì có lãi thì làm, không có lãi thì thôi nên nó không giải quyết được cái gọi là “hàng hoá công cộng” (đường xá, các công trình văn hoá, y tế và giáo dục, an ninh, quốc phòng .v.v.) ví dụ : quốc phòng là hàng hóa công cộng thuần túy nếu thiếu sự cung cấp của chính phủ, những hàng hóa này sẽ luôn bị thiếu.

– Trong nền kinh tế thị trường có sự phân biệt giàu nghèo rõ rệt: giàu ít, nghèo nhiều, bất công xã hội.

   Do tính tự phát vốn có, kinh tế thị trường có thể mang lại không chỉ có tiến bộ mà còn cả suy thoái, khủng hoảng và xung đột xã hội cho nên cần phải có sự can thiệp của Nhà nước. Sự can thiệp của Nhà nước sẽ đảm bảo hiệu quả cho sự vận động của thị trường được ổn định, nhằm tối đa hoá hiệu quả kinh tế, bảo đảm định hướng chính trị của sự phát triển kinh tế, sửa chữa khắc phục những khuyết tật vốn có của kinh tế thị trường, tạo ra những công cụ quan trọng để điều tiết thị trường ở tầm vĩ mô. Bằng cách đó Nhà nước mới có thể kiềm chế tính tự phát của kinh tế thị trường, đồng thời kính thích đối với sản xuât thông qua trao đổi hàng hoá dưới hình thức thương mại. Muốn làm được điều đó đòi hỏi nhà nước ta có nguồn tài chính công.

Tài chính công là một bộ phận nằm trong hệ thống tài chính. Hệ thống tài chính bao gồm :

Tài chính công

Tài chính doanh nghiệp;

Thị trường tài chính (gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn);

Tài chính quốc tế;

Tài chính hộ gia đình, cá nhân;

Tài chính các tổ chức xã hội;

Tài chính trung gian (bao gồm tín dụng, bảo hiểm).

•  Các mối quan hệ giữa các bộ phận trong hệ thống tài chính.

– Mối quan hệ giữa tài chính công và thị trường tài chính.

Mỗi chính sách tài chính lành mạnh sẽ thúc đẩy thị trường tài chính phát triển bền vững. Thị trường tài chính giúp chỉnh phủ phối hợp chính sách tài chính và tiền tệ một cách hiệu quả.

– Mối quan hệ tài thị trường và doanh nghiệp

Doanh nghiệp phát triển gia tăng cung cầu chứng khoán góp phần phát triển thị trường  tài chính tạo môi trường thuận lợi đẻ doanh nghiệp daonh nghiệp thực hiện chiến lược đầu tư và tài trợ.

– Mối quan hệ giữa thị trường tài chính và tài chính họ gia đình.

Thể hiện thị trường tài chính phát triển mở ra nhiều cơ hội đầu tư cho các hộ gia đình. Ví dụ như việc vay vốn để mở rộng quy mô phát triển kinh tế.

•  Tài chính công gắn liền với hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước cho nên nó gắn liền với quyền lực của nhà nước. Nhà nước có quyền lực chi phối, điều chỉnh đến các khu vực khác.

 Tài chính công gắn liền với các việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội, quốc phòng, an ninh,… Hoạt động thu chi tài chính công có tác động đến thu nhập của hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế kể cả chủ thể đầu tư hay tiêu dùng. Tuy nhiên, phạm vi và mức độ tác động tuỳ thuộc vào chính sách tài chính công, bối cảnh kinh tế – xã hội quốc gia trong từng thời kì và tuỳ thuộc vào từng chủ thể

Tài chính công bao gồm: Ngân sách Nhà nước, tín dụng ngân hàng, dự trữ Nhà nước, tài chính doanh nghiệp nhà nước, Ngân hàng Nhà nước,các quỹ tài chính nhà nước.

•  Trong các bộ phận của tài chính công thì ngân sách Nhà nước là bộ phận quan trọng nhất

Ngân sách Nhà nước gắn liền với các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước đồng thời là phương tiện vật chất cần thiết để hệ thống chính quyền nhà nước thực hiện nhiệm vụ của mình. Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng đó là duy trì, ổn định mộ máy nhà nước, điều tiết nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo công bằng xã hội. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước còn có vai trò to lớn trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Đó là vai trò định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống kinh tế xã hội…Để thực hiện được các vai trò đó, ngân sách nhà nước phải có các nguồn vốn được tập trung từ các tụ điểm vốn thông qua các chính sách thích hợp. Ngân sách nhà nước thực hiện các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên và chi cho đầu tư kinh tế. Việc cấp phát vốn ngân sách nhà nước cho các mục đích khác nhau sẽ  làm tăng nguồn vốn ở các tụ điểm vốn. Như vậy hoạt động thu, chi ngân sách Nhà nước đã làm nảy sinh cá mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức kinh tế, xã hội, các tầng lớp dân cư, nhà nước với các nhà nước khác, các mối quan hệ kinh tế giữa một tụ điểm quan trọng , ngân sách nhà nước với các bộ phận trong  hệ thống tài chính. Ngân sách Nhà nước quan trọng vì đây là một nguồn tiền lớn được thu từ nhiều khoản khác nhau và nó là bắt buộc đối với các tổ chức ngoài ra còn có các khoản tự nguyện.

Thu từ ngân sách nhà nước được lấy từ mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội khác nhau trong đó có thuế là hình thức phổ biến dựa trên tính cưỡng chế là chủ yếu. Chi tiêu của ngân của ngân sách nhà nước nằm trong sự duy trì và tồn tại của hoạt động bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng Nhà nước. NSNN là một hệ thống bao gồm các cấp ngân sách với hệ thống chính quyền Nhà nước các cấp. Tương ứng với các cấp NS của hệ thống ngân sách nhà nước. Qũy NSNN được chia thành quỹ ngân sách của chính phủ trung ương. Quỹ ngân sách của chính quyền cấp tỉnh và tương đương. Quỹ ngân sách của chính quyền cấp huyện và tương đương, quỹ ngân sách chính quyền cấp xã và tương đương.

 Ngân sách nhà nước là nơi tập trung quỹ tiền tệ lớn nhất của Nhà nước, giữ vai trò quan trọng và to lớn trong phạm vi và tính hiệu quả của hoạt động của hệ thống tài chính công. Ngân sách là bộ phận hạt nhân của tài chính công mà Nhà nước sử dụng để tác động tới hoạt động kinh tế xã hội có tính vĩ mô

Nguồn tiền ngân sách Nhà nước bao gồm:

Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí

Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước

Các đóng góp của tổ chức và cá nhân.

Các khoản viện trợ

Các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chu được đưa vào cân đối ngân sách nhà nước

Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Các khoản chi được đưa vào cân đối ngân sách nhà nước.

NSNN được xem là bộ phận quan trọng nhất, chi phối đến các thành tố khác.  NSNN là nguồn tài lực lớn của nhà nước và có vai trò định hướng, điều tiết các bộ phận khác trong hệ thống tài chính công.  Chứa vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định. Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội

Nhà nước sử dụng ngân sách để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình nó chi phối, điều chỉnh cho nên nếu ngân sách Nhà nước có sự thay đổi thì sẽ ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, ảnh hưởng đến các hộ gia đình.

– Khi ngân sách Nhà nước tăng thì hoạt động chi cho đầu tư, chi cho thường xuyên sẽ tăng, các doanh nghiệp thua lỗ được nhiều chính sách trợ giá của nhà nước. Xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho doanh nghiệp, kinh tế hộ gia đình phát triển đồng nghĩa với đời sống nhân dân ngày càng tốt hơn. Ngân sách Nhà nước tăng được chi nhiều cho các chương trình từ thiện, đảm bảo công bằng xã hội. ví dụ các chương trình như xóa đói giảm nghèo, chính sách với người có công, chương trình 135, cứu trợ động bào lũ lụt, hạn hạn và các thiên tai dịch bệnh….

– Ngược lại khi ngân sách Nhà nước giảm các hoạt động đó sẽ kém đi dẫn tới đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, kinh tế kém phát triển.

Ngân sách Nhà nước tham gia vào những ngành tư nhân không đủ vốn hay thu hồi vốn chậm mang tính phúc lợi xã hội cao. Phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân của xã hội được sử dụng nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếu mang tính bao cấp và được phân phối ngoài thu nhập theo lao động.

 

Phúc lợi xã hội bao gồm những chi phí xã hội chủ yếu sau: trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội, học bổng cho học sinh, những chi phí cho học tập không mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi, an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo,… các khu vui chơi, giải trí công cộng không thu tiền (hoặc thu ít), các công trình công cộng phục vụ chung cho mọi người… Tùy theo mức độ phát triển của các mặt kinh tế – xã hội, quỹ phúc lợi thường có ba nhóm cơ bản: quỹ tập trung của Nhà nước quản lý; quỹ phúc lợi của các xí nghiệp, đơn vị kinh doanh và quỹ phúc lợi tập thể của các hợp tác xã, các đơn vị sản xuất. Các quỹ hoạt động dưới hai hình thức: hình thức trả bằng tiền như: tiền lương, tiền hưu trí, các khoản trợ cấp, tiền nghỉ phép, tiền học bổng,… và các hình thức ưu đãi thông qua các dịch vụ không mất tiền hoặc chỉ phải trả một phần nào đó như: giáo dục, y tế,… nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của nhân dân, đặc biệt là đối với những người có công đối với đất nước, những người nghèo, vùng nghèo, những đối tượng yếu thế, gặp rủi ro.

 

        Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, việc mở rộng và nâng cao phúc lợi xã hội là điều kiện quan trọng để đáp ứng và làm thỏa mãn ngày càng nhiều hơn những nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân lao động. Các quỹ phúc lợi xã hội là phương tiện cần thiết để điều chỉnh việc phân phối thu nhập xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, khắc phục dần những khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Việc xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế tham gia đòi hỏi phải thực hiện những quan điểm mới, những chính sách và giải pháp mới về phúc lợi xã hội. Trong điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay, Nhà nước không thể bao cấp tràn lan, bình quân những chi phí cho phúc lợi xã hội mà cần phải tập trung cho những vấn đề cơ bản và thiết yếu nhất trong đời sống của nhân dân lao động, cho những vùng, những đối tượng còn nhiều khó khăn nhất, đồng thời bảo đảm sự công bằng và hợp lý giữa các thành phần kinh tế, giữa các đơn vị và các cá nhân nhằm khuyến khích và động viên toàn thể nhân dân tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng xã hội mới. Phúc lợi xã hội không thể vượt quá những khả năng và điều kiện của nền kinh tế, nhưng đồng thời cũng không thể bị động, cứng nhắc, phụ thuộc máy móc vào những kết quả của sự phát triển kinh tế. Việc không ngừng nâng cao những phúc lợi xã hội chính là biểu hiện thực tế và sinh động bản chất ưu việt của chế độ xã hội mới. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta khẳng định tiếp tục phát triển và nâng cao phúc lợi xã hội, coi đó là một động lực quan trọng của sự phát triển bền vững.

 

+ Hệ thống thuế tác động đến khu vực tư

Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế. Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào qũy đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội. Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngay càng được nâng cao. Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân. Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh.

Thông qua các quy định của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn giảm thuế…Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền kinh tế. Vai trò này của pháp luật thuế được thể hiện ở chổ pháp luật thuế là công cụ tác động đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội. Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư, tiêu dùng. Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động can thiệp đến cung – cầu của nền kinh tế. Sự tác động của Nhà nước để điều chỉnh cung – cầu của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế. Bằng các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tác động tích cực đến cung – cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường. Thông qua các quy định của pháp luật thuế thì Nhà nước tác động đến các quan hệ tiêu dùng của xã hội. Nhằm hạn chế việc tiêu dùng đối với một số hàng hóa, dịch vụ, Nhà nước tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu…đối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng các loại hàng hóa đó.

Ðể thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước và khuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quy định khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu đối với một số hàng hóa. Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng có tính chất phân biệt đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu.

Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường tất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanh nghiệp. Ðối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyến khích, ngoài các quy định chung, pháp luật thuế còn có các quy định ưu đãi, miễn, giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp.

Ví dụ: Nhà nước Ban hành khuyến khích đầu tư trong nước, thể hiện cụ thể về chủ trương của đảng và nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế , mọi người dân bỏ vốn sản xuất , kinh doanh. Trong luật khuyến khích đầu tư trong nước cũng ban hành các danh mục nghành nghề , danh mục các địa bàn khuyến khích đầu tư và chính sách ưu đãi cụ thể đối với từng địa bàn. Trong đó đặc biệt là các chính sách ưu đãi miễn giảm thuế được các thành phần kinh tế quan tâm và hoan nghênh. Các chính sách khuyến khích đầu tư ở miền núi, những vùng có địa hình khó khăn Nhà nước ta sử dụng chính sách miễn giảm thuế để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào, điều đó giúp thúc đẩy kinh tế ở những vùng còn khó khăn. Sử dụng chính sách thuế để kìm hãm như đánh thuế vào các mặt hàng xa xỉ, mặt hàng ảnh hưởng đến sức khỏa người dân như rượu , bia, thuốc lá… nhằm hạn chế, kìm hãm sản xuất. Như vậy thì không phải là cứ nhà nước trực tiếp bỏ tiền ra là chi phối, điều chỉnh mà theo cách này nhà nước không thu trực tiếp mà thông qua gián tiếp nhà nước đã điểu chỉnh để thu hút hút đầu tư vào để phát triển đất nước. như vậy đang thực hiện chức năng của nhà nước một cách hiệu quả. Điều đó có ý nghĩa trong việc phát triển trên các vùng miền của đất nước.

+ Tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế – tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước.

Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế – xã hội và các cá nhân. Tín dụng nhà nước xuất hiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước trong điều kiện nguồn thu không đủ để đáp ứng; nó còn là công cụ để nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế yếu kém, ngành mũi nhọn và khu vực kinh tế kém phát triển, và là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý, điều hành vĩ mô.

 

Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.

 

Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không. Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có phương án sản xuất khả thi. Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp còn phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi. Trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả.

 

 

Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp.

 

Trong nền kinh tế thị trường hiếm doanh nghiệp nào dùng vốn tự có để sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì vốn hạn hẹp vì nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm khó được thị trường chấp nhận. Để hiệu quả thì doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất. Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.

 

Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh. Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp là tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được. Và khi đó cơ hội đầu tư phát triển không còn nữa. Như vậy có thể đáp úng kịp thời, các doanh nghiệp chỉ có thể tìm đến tín dụng ngân hàng. Chỉ có tín dụng ngân hàng mới có thể giúp doanh nghiệp thưc hiện được mục đích của mình là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh.

+ Bảo hiểm xã hội

Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi người lao đọng gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế của tổ chức hoạt động của BHXH.

Tiến hành phân phối và phân phối lại thua nhập giữa những người tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH đóng góp và quỹ BHXH để bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu và người nghèo, người khoẻ mạnh – người ốm đau, người trẻ – người già… Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội. Góp phần kích thích người lao động hăng hài sản xuất nâng cao năng suất lao động do cuộc sống của họ được đảm bảo, họ không còn phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập trung vào việc sản xuất. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hôi.

Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sủ dụng lao động, giữa người lao động và nhà nước góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Do giữa ngườ lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toàn lao động … BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ. Nhà nước thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội. Quỹ BHXH Việt Nam được ngân sách nhà nước đóng góp dưới dạng chuyển cho quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng được thưởng BHXH từ 1/1/1995 trở về trước. Ngoài ra quỹ BHXH Việt Nam còn được ngân sách nhà nước giúp chi trả cho các chế độ cho những người được hưởng BHXH sau ngày 1/1/1995. Trước đây do khâu thu, chi BHXH còn yếu kém nên BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Từ ngày sau những năm đổi mới BHXH đã dần thoát khỏi bao cấp nặng nề từ ngân sách nhà nước, ngân sách cấp cho BHXH được giảm dần( mỗi năm giảm bình quân 3% nhưng mức giảm ngày càng cao).

+Kích thích khu vực tư bằng những chính sách tài chính phù hợp ( như lãi suất, thuế …)

Cơ chế hỗ trợ lãi suất thời gian qua đã đạt dược mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp, hộ sản xuất duy trì sản xuất kinh doanh, mở rộng đầu tư, giảm giá thành để tăng khả khả năng cạnh tranh, tạo việc làm, lạm phát được kiềm chế ở mức thấp nhất; tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức độ hợp lý và bền vững ổn định kinh tế vĩ mô; các cân đối thu chi ngân sách nhà nước, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế… được đảm bảo; góp phàn quan trọng thực hiện mục tiêu hàng đầu là ngăn chăn suy giảm kinh tế. Đây là một trong những giải pháp kích thích kính kinh tế được lựa chọn tối ưu với cho phí thấp, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Các ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ nới lỏng một cách thận trọng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và hộ sản xuất tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp ( 4%-6,5%/ năm sau khi được hỗ trợ lãi suất) để sản xuất kinh doanh trong điều kiện kinh tế suy giảm. Việc tăng vốn cho mở rộng đầu tư phát triển sản xuất-kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu là rất cần thiết nhưng đây cũng là nhân tố tác động làm cho tăng trưởng tín dụng ở mức cao. Tài trợ thông qua miễn giảm thuế dùng để kích cầu là miễn giảm, hoãn, chậm việc thu thuế để doanh nghiệp có nguồn đầu tư. Đây là một biện có lợi và có thể giúp duy trì hoặc mở rộng sản xuất cho các doanh nghiệp hưởng lợi.

+ Kìm hãm, hạn chế…

Bằng cách đánh thuế các mặt hàng xa xỉ chỉ những người có giàu có khả năng chi trả mới có thể mua được như ô tô, nước hoa…. các mặt hàng ảnh hưởng đến sức khỏe con người nhưng lại đưa ra lợi nhuận cao như rượu, bia , thuốc lá…thì nhà nước đánh thuế nhằm kìm hãm hay hạn chế sản xuất, nhập khẩu để điều chỉnh cuộc sống, tạo cân bằng xã hội, giảm chênh lệch giàu nghèo.

Qua phân tích cho thấy vai trò rất quan trọng của tài chính công trong việc chi phối và điều chỉnh tài chính tài chính tư. Tài chính công luôn luôn giữ vai trò chủ đạo nếu như tài chính công biến động sẽ kéo theo tài chính tư biến động. Chính vì vậy cần có những chính sách để phù hợp với điều kiện thực tế nhằm đảm bảo vai trò của tài chính công.

Tác giả:  Nguyễn Thành Viên

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s