Những nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách Nhà nước?

Các nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách Nhà nước? Thực trạng các nhân tố này ở Việt Nam hiện nay?

Thu ngân sách nhà nước là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa nhà nước với chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực nhà nước, nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế,xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ kinh tế xã hội của nhà nước

Đặc điểm thu ngân sách nhà nước

Thu ngân sách nhà nước là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Mọi khoản thu của nhà nước đều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước;

Thu ngân sách nhà nước phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế; biểu hiển ở các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất, v.v…Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu.

Nội dung thu ngân sách nhà nước:

1.Thu thuế

          Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật quy định đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Thuế phản ánh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội,thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước với các pháp nhân và thể nhân trong phân phối các nguồn tài chính và là công cụ cơ bản thực hiện phân phối tài chính.

2. Phí và lệ phí

Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính đối giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp. So với thuế, tính pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn nhiều. Phí gắn liền với với vấn đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình. Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân.

Các khoản thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước

Các khoản thu này bao gồm:

– Thu nhập từ vốn góp của nhà nước vào các cơ sở kinh tế có vốn góp thuộc sở hữu nhà nước;

– Tiền thu hồi vốn tại các cơ sở của nhà nước;

– Thu hồi tiền cho vay của nhà nước.

4. Thu từ hoạt động sự nghiệp

Các khoản thu có lãi và chênh lệch từ các hoạt động của các cơ sở sự nghiệp có thu của nhà nước.

5. Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu nhà nước

Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và có một phần mang tính chất phân phối lại, vừa có tính chất phân phối lại, vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản quốc gia vừa tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Các nguồn thu từ bán hoặc cho thuê tài sản, tài nguyên, thiên nhiên; thu về bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước.

6. Thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản

Các khoản thu này cũng là một phần thu quan trọng của thu ngân sách nhà nước và được pháp luật quy định…

Các yếu tố ảnh hưởng thu ngân sách nhà nước

– Thu nhập GDP bình quân đầu người .

Thu nhập GDP bình quân đầu người là một chỉ tiêu phản ánh khả năng tăng trưởng và phát triển hay khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một quốc gia.GDP bình quân đầu người là một nhân tố khách quan quyết định mức động viên của nhà nước. Vì vậy khi ấn định mức động viên vào ngân sách nhà nước cân căn cứ vào chỉ tiêu này. Nếu không tính đến chỉ tiêu này khi xác định mức động viên vào ngân sách nhà nước sẽ ảnh hưởng tiêu tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng, đầu tư các tổ chức kinh tế, các tầng lớp dân cư. Việt Nam hiện nay đang phát triển nền kinh tế thị trường tổng thu nhập bình quân đầu người tăng trong những năm gần đây .  Tăng mạnh sau khi đổi mới. GDP tăng thể hiện được một nền kinh tế đang phát triển điều đó nó ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân rất lớn, chất lượng cuộc sống được cải thiện tăng lên đáng kể làm cho đất nước thêm lớn mạnh. GDP năm 2012 của Việt Nam là 5,03 % phù hợp với tình hình phát triển của Đất nước. Tuy vậy so với các nước trong khu vực và trên thế giớ thì GDP bình quân đầu người nước ta còn thấp và chậm so với các nước cụ thể như: Tiến sĩ Phạm Hồng Chương và các đồng sự ở ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia năm 1991. Còn theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore. Tuy nước ta được xếp vào nước đang phát triển nhưng giá trị của đồng tiền cũng không bằng các nước kém phát triển như Lào hay Campuchia.

Bảng GDP được thể hiện qua các năm

Năm

GDP

2008

6, 31

2009

5,32

2010

6, 78

2011

5,89

2012

5,03

Qua bảng GDP thể hiện qua các từ các năm giảm nhưng trong điều kiện tình hình sản xuất rất khó khăn, cả nước tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, mức tăng trưởng trên là khá cao và hợp lý.

– Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế .

Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế. Tỷ suất doanh lợi càng lớn thì nguồn tài chính càng lớn. Đó là nhân tố quyết định đến việc nâng tỷ suất thu ngân sách nhà nước.

Dựa vào tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế để xác định tỷ số thu ngân sách nhà nước sẽ tránh được việc động viên vào ngân sách nhà nước gây khó khăn về tài chính cho hoạt động kinh tế. Hiện nay tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế nước ta thấp trong khi chi phí tiền lương ngày càng tăng nên tỷ suất thu ngân sách không cao. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được của nhà nước ta trong việc đầu tư phát triển kinh tế thì hiện nay trong thời gian vừa qua, đã  có rất nhiều thông tin về việc kém hiệu quả và sai phạm của các dự án xây dựng cơ bản sử dụng nguồn vốn NSNN. Hiệu quả đầu tư của các dự án sử dụng nguồn NSNN thấp, ít nhiều đã có tác động trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và cả lâu dài đến nhiều mặt của đời sống kinh tế-xã hội – chính trị nước ta.

Tuy nhiên, việc đánh giá dự án có hiệu quả hay không cũng mới dừng ở mức nêu vấn đề và dựa vào các tiêu chí như chậm tiến độ, lãng phí… mà chưa có một tiêu chí đánh giá cụ thể. Với đặc thù những dự án này đều đòi hỏi một số lượng vốn, lao động, vật tư lớn, dàn trải và phải đầu tư trong thời gian dài, liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương, lại chịu tác động nhân quả từ những chính sách chi tiêu từ nguồn NSNN nên việc quản lý quá trình đầu tư và triển khai dự án còn nhiều bất cập, ảnh hưởng và chi phối đến hiệu quả đầu tư.Điển hình và gây nhiều tranh cãi nhất trong thời gian vừa qua là việc đầu tư vào các công trình thủy điện. Hàng loạt sự cố xảy ra trong thời gian gần đây hàng ngàn con đập trải dọc lãnh thổ Việt Nam ssang bị đe dọa. Sau Thủy điện Sông Tranh 2 chưa kịp đưa ra giải pháp khoa học để tích nước, lại đến đập Thủy điện Đắk Rông 3 (Quảng Trị) bị vỡ. Gần 1.100 dự án thủy điện trong quy hoạch cho thấy Việt Nam đang phát triển thủy điện quá nóng và vội vàng, đồng thời thể hiện sự yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn và những lỗ hổng trong cấp phép đầu tư, thẩm định dự án.

Không chỉ trong ngành thủy điện, mà ở hầu hết lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản nguồn vốn NSNN đều có nhiều bất cập. Theo Báo cáo của các cơ quan Bộ ngành địa phương, tập đoàn, tổng công ty 91 gửi Bộ Kế hoạch đầu tư trong năm 2011 có 4.436 dự án chậm tiến độ, chiếm 11,55% số dự án thực hiện trong kỳ. Đối với các dự án nhóm A dùng vốn ngân sách, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho biết, kiểm tra 302 dự án thì phát hiện 93 dự án chậm tiến độ. Số này chiếm 28,10% tổng số dự án đã kiểm tra, cao hơn so với các kỳ báo cáo trước như năm 2010 là 19,35%, năm 2009 là 11,55%, năm 2008 là 16,73%. Trong đó, tình trạng vi phạm về quản lý đầu tư cũng xảy ra phổ biến ở các dự án đầu tư bằng nguồn vốn bên ngoài, qua kiểm tra, đánh giá 4.466 có 30 dự án có vi phạm về bảo vệ môi trường, 68 dự án có vi phạm về sử dụng đất, 67 dự án có vi phạm về quản lý tài nguyên. Ngoài ra còn nhiều dự án như cầu, đường, trường, trạm.. các con đường xây dựng vừa mới đi vào hoạt động đã nhanh chóng hỏng ví dụ như: cột mộc được làm bằng xi măng cốt tre, các cây cầu được xây dựng nhưng kém chất lượng. hiệu quả đầu tư không cao.  Có nhiều sai phạm ở tất cả các khâu: từ việc quyết định đầu tư đến việc phân bổ và bố trí vốn đầu tư, sử dụng nguồn vốn đầu tư, sai phạm trong công tác lập, thẩm định dự toán, dự án phê duyệt tăng không đúng khối lượng, đơn giá diễn ra phổ biến trong các dự án nhà ở xã hội tại các địa phương dẫn đên hiệu quả không cao, sai phạm trong việc bố trí vốn đầu tư dàn trải, đầu tư tràn lan, chưa tập trung dứt điểm cho các công trình chuyển tiếp, bố trí vốn cho các dự án không đủ điều kiện ghi kế hoạch vốn, dẫn đến tiến độ thi công kéo dài, hiệu quả thấp, nợ khối lượng xây dựng cơ bản lớn, vượt quá khả năng ngân sách, gây mất cân đối ngân sách và gây khó khăn về vốn cho doanh nghiệp diễn ra ở hầu hết các tỉnh dẫn đến ảnh hưởng tỷ suất doanh lợi dẫn đến ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước.

– Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên.

Đây là nhân tố ảnh hưởng đến số thu ngân sách nhà nước. Kinh nghiệm của nhà nước ta cho thấy, nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoảng sản chiếm khoảng 20% kim ngạch xuất khẩu thì tỷ lệ thu ngân sách nhà nước sẽ cao và có khả năng tăng nhanh. Trong tương lai Việt Nam, dầu mỏ và khoáng sản chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu và đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao tỷ suất thu ngân sách nhà nước. Cụ thể tổng sản lượng khai thác quy dầu năm 2012 của PVN đạt 26 triệu tấn (tăng 8,7% so với năm 2011), trong đó khai thác dầu đạt 16,7 triệu tấn, khai thác khí đạt 9,3 tỷ m3. Năm qua, xuất khẩu dầu thô của PVN đạt 10 triệu tấn với kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ USD.

Tổng doanh thu của toàn bộ các đơn vị trong Tập đoàn đạt 772,7 nghìn tỷ đồng (tăng 14,4% so với năm 2011); nộp ngân sách Nhà nước đạt 186,3 nghìn tỷ đồng (tăng 15,8% so với năm 2011); tổng lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp của PVN là 113,1 nghìn tỷ đồng (tăng 12,4% so với năm 2011). Công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được triển khai nghiêm túc trong toàn Tập đoàn. Bằng nhiều biện pháp tiết kiệm, sáng kiến kỹ thuật, tối ưu hiệu quả đầu tư, PVN đã tiết giảm được 5104 tỷ đồng, vượt 37,4% so với cam kết.

 Ở các nước có nhiều tài nguyên đây là nguồn thu có ý nghĩa lớn đối với Đất nước.Tài nguyên thiên nhiên là nguồn thu có hạn, nó ngày càng cạn kiệt. Tuy việc xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản đưa lại cho Việt Nam hàng chục tỷ đô la Mỹ mỗi năm nhưng đó là các tài nguyên, khoáng sản ở dạng thô. Ví dụ: việc xuất khẩu cà phê, cao su với số lượng lớn nhưng đổi lại mất hàng nghìn ha diện tích rừng. Công nghiệp khai khoáng xuất khẩu chủ yếu là dầu thô và than đá và các tài nguyên khác chủ yếu là sơ chế rồi xuất khẩu, khai thác tài nguyên để xuất khẩu vẫn là ngành kiếm được nhiều lợi nhuận nhưng cái lợi đó lại chảy vào một nhóm nhỏ doanh nghiệp làm tổn thất cho ngân sách nhà nước. Việc khai thác tài nguyên không gắn liền với phát triển công nghiệp chế biến làm thúc đẩy tốc độ “ chảy máu tài nguyên”. khi các ngành công nghiệp nội địa phát triển thì tài nguyên cũng không còn. Công nghiệp chế biến gỗ là một ví dụ điển hình. Xuất khẩu tài nguyên thô còn làm triệt tiêu động lực phát triển khoa học công nghệ…đó là những vấn đề cần được quan tâm vì nó ảnh hưởng lâu dài đến thu ngân sách nhà nước, sự phát triển của đất nước.

– Mức độ trang trải các khoản chi phí của nhà nước phụ thuộc vào các yếu tố.

Quy mô tổ chức của bộ máy nhà nước hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà nhà nước đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử, chính sách sử dụng kinh phí của nhà nước.

Trong điều kiện các nguồn tài trợ khác cho chi phí nhà nước không có khả năng tăng lên, việc tăng mức độ chi phí của nhà nước sẽ dẫn đến tỷ suất thu ngân sách nhà nước tăng lên. Ở hầu hết các nước đang phát triển, nhà nước đều có tham vọng đây nhanh sự tăng trưởng kinh tế bằng việc đầu tư công trình lớn, mà có vốn đầu tư yêu cầu phải tăng thu. Nhưng trong thực tế, nguồn thu tăng quá mức lại làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, tăng thu dẫn đến đời sống nhân dân khó khăn mà tăng thu đồng nghĩa với việc tăng thuế đối với các đối tượng như doanh nghiệp, thuế tăng doanh nghiệp khó khăn đòi hỏi doanh nghiệp lại tăng giá sản phẩm và điều đó sẻ ảnh hưởng đến mức thu mua trên thị trường, sức mua giảm, đời sống nhân dân giảm sút và kéo theo lạm phátchính vì vậy để giải quyết vấn đề này, nhà nước phải có chương trình phát triển – xã hội một cách thận trọng trên cơ sở khoa học thực tiễn để đạt hiệu quả cao từ đó xác lập một chính sách chi tiêu hiệu quả tiết kiệm.  

Tùy theo nền kinh tế của nhà nước mà mức độ trang trải đầu tư cho phát triển kinh tế cũng khác nhau.Hiện nay có nhiều thông tư, ví dụ như thông tư hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước để thực hiện chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020 điều đó có ý nghĩa đối với việc sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước, tránh lãng phí…

– tổ chức bộ máy thu nộp .

Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống được thất thu trong trốn lậu thuế sẽ là nhân tố tích cực làm giảm tỷ suất thu ngân sách nhà nước mà vẫn thõa mãn được nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước. Hiện nay đã có hệ thống pháp luật để quản lý nhà nước cũng như trong vấn đề thu ngân sách nhà nước, đã có những tiến bộ, thành tựu nổi bật nhưng vẫn còn nhiều tồn tại nhiều hạn chế.bộ máy thu nộp đổi mới còn chậm, chưa theo kịp yêu cầu. Nhìn chung thì việc xây dựng, kiện toàn thống tổ chức chưa đạt yêu cầu tinh gọn, hiệu quả, bộ máy cồng kềnh, chồng chéo, quan liêu, trách nhiệm không rõ, hiệu lực, hiệu quả thấp. Mối quan hệ về trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân, nhất là những người đứng đầu chưa được quy định cụ thể, khó đánh giá được công tác và quy rõ trách nhiệm khi sai phạm. bộ máy thu nộp còn nhiều tầng nấc gây tốn kém. Hơn nữa phẩm chất cá nhân, phẩm chất nghề nghiệp của nhiều cá nhân còn ảnh hưởng đến vấn đề thu ngân sách như bao che, lách luật để trốn thuế dẫn đến việc thất thu mặc dù có hệ thống pháp luật nhưng có nhiều đối tượng không có trách nhiệm đã trốn thuế làm ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước. Chính vì vậy mà việc cải cách bộ máy thu nộp cũng rất quan trọng trong tình hình hiện nay.

Ngoài các nhân tố trên, nội dung cơ cấu chi ngân sách nhà nước của mội quốc gia trong từng giai đoạn nhất định đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố biến động kinh tế, chính trị, xã hội, lãi suất, giá cả…

Tóm lại,Để có được mức thu đúng đắn có tác dụng thúc đẩy tăng cường kinh tế cần phải có sự phân tích đánh giá tỷ  mỉ, cụ thể và phải được xem xét một cách toàn diện và cần đưa ra nhiều biện pháp để chống thất thu ngân sách, sử dụng tiết kiệm hiệu quả ngân sách nhà nước.

Tác giả: Nguyễn Thành Viên

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s