Ngân sách nhà nước với phát triển kinh tế – xã hội

nhaquanlytuonglai 17.jpg

Vai trò của ngân sách nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. 

Trong hệ thống tài chính thống nhất thì Ngân Sách nhà nước( NSNN) là khâu tài chính tập trung giữ vị trí chủ đạo. Nó cũng là khâu được hình thành sớm nhất, ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời của hệ thống quản lý nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hóa tiền tệ. Theo luật NSNN đã được quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kì họp thứ 2 “NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước đã được cơ quan của nhà nước có thẩm quyền quyết định trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.

Về phương diện pháp lý: NSNN bao giờ cũng là đạo luật dự trù các khoản thu. Chi bằng tiền của nhà nước trong một thời gian nhất định, thường là một năm.

Về bản chất kinh tế: mọi hoạt động của NSNN đều là hoạt động phân phối nguồn tài nguyên quốc gia .

Về tính chất xã hội: NSNN luôn luôn là một công cụ kinh tế của nhà nước nhằm phục vụ và thực hiện  các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

Vậy vai trò của NSNN cụ thể như thế nào? Đó là trong mọi thời đại và trong các mô hình kinh tế NSNN có vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại đất nước. Bao gồm các vai trò: Đảm bảo hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, thực hiện công bằng xã hội và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên vai trò của ngân sách Nhà nước bao giờ cũng gắn liền với vai trò của nhà nước trong từng thời kỳ nhất định.

Thứ nhất, Ngân sách nhà nước đảm bảo hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước

Từ các nguồn lực tài chính mà nhà nước huy động qua hoạt động của tài chính công bao gồm: các nguồn lức tài chính trong nội bộ nền kinh tế quốc dân, các nguồn lực tài chính từ nước ngoài, với nhiều hình thức huy động vốn khác nhau( thuế, công trái, phí, lệ phí, thu sự nghiệp, thu từ các quỹ tài chính của nhà nước) mà trước đổi mới hầu như chỉ thu thuế chủ yếu từ thuế có nhiều nguyên nhân khác nhau về điều kiện kinh tế, phát triển khoa học kỹ thuật, văn hóa, xã hội…tóm lại thời kỳ này hệ thống tài chính còn sơ sài chưa cụ thể, cồng kềnh.

Các nguồn lực tài chính này được sử dụng để trả lương cho bộ máy công chức, công an, quân đội, quản lý hành chính nhà nước, xây dựng trụ sở, mua sắm trang thiết bị cho các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm duy trì hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước và thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội. 

Thông qua nhiều hình thức huy động vốn khác nhau mà có ngân sách nhà nước để có thể đảm bảo được sự hoạt động ổn định của bộ máy nhà nước thì yêu cầu ngân sách nhà nước phải chi thường xuyên cho quản lý nhà nước. Chi quản lý nhà nước bắt nguồn từ sự tồn tại của nhà nước phù hợp với đặc điểm chức năng của nhà nước. Đây là khoản chi nhằm đảm bảo cho hoạt động của hệ thống  các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương và cơ sở, hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam và hoạt động của tổ. Như vậy có thể nói nguồn kinh phí quyết định các hoạt động quốc phòng, an ninh từ ngân sách nhà nước mà không một khâu tài chính nào có thể thay thế được. Tất cả vì để phát triển kinh tể xã hội xây dựng Đất Nước giàu mạnh. Đây là vai trò mang tính lịch sử của tài chính công gắn liền với sự ra đời của nhà nước. Tài chính công phải thực hiện vai trò này trong bất kỳ chế độ xã hội nào và cơ chế kinh tế nào.

Cụ thể các khoản chi được thể hiện như sau qua bảng :

Số thứ tự

Tên đơn vị

Chi năm 2008

Chi năm 2012

1

Văn phòng Chủ tich Nước

55.160

149,410

2

Văn phòng Quốc hội

528, 800

1,269,740

3

Văn phòng Trung ương Đảng

621,974

1,779,290

4

Văn phòng Chính phủ

350,765

630,430

5

Học viện chính trị tp.HCM

359,825

616,740

6

Bộ y tế

3,955,586

5.168,710

7

Bộ kế hoạch và đầu tư

657,167

1,999,885

8

Bộ lao động thương binh và xã hội

12,404,417

23,900,377

9

Bộ giáo dục và đào tạo

4,057,535

5,762,217

10

Bộ tài nguyên và môi trường

1,473,931

2,684,950

n

……….

Bảng dự toán chi NSTW của từng Bộ, cơ quan Trung ương theo từng lĩnh vực chi và những nhiệm vụ chi của NSTW năm 2008 và 2012 (đơn vị:triệu đồng)

Qua bảng số liệu ta thấy việc dùng ngân sách cho bộ máy là rất lớn. Đây chỉ là một số Đơn vị tiểu biểu và việc chi thường xuyên tăng mạnh qua các năm. Qua đó thấy được Ngân sách Nhà nước rất quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động của bộ máy Nhà nước.

Thứ hai, Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô .

Thứ nhất: thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo tốc độ tăng trưởngkinh tế ổn định và bền vững

Trong cơ chế thị trường kế hoạch hóa tập trung, cùng với việc nhà nước can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh , vai trò của ngân sách nhà nước ở trong việc điều chỉnh các hoạt động trở nên thụ động. Ngân sách nhà nước gần như chỉ là cái túi đựng sổ thu để rồi thực hiện việc bao cấp vốn cố định , vốn lưu động, vốn bù lỗ, bù lương… trong điều kiện đó, hiệu quả các nguồn thu chi ngân sách nhà nước không được coi trọng và tất yếu, tác động của ngân sách nhà nước đến hoạt động kinh tế nhằm điểu chỉnh các hoạt động đó và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế là hết sức hạn chế.

Chuyển sang cơ chế thị trường, trong lĩnh vực kinh tế. Nhà nước định hướng về việc hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Điều đó được thực hiện thông qua các chính sách thuế và chính sách chi tiêu của ngân sách chính phủ để vừa kích thích và vừa gây sức ép với các doanh nghiệp, nhằm kích thích sự tăng trưởng kinh tế. Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, nhà nước thực hiện định hướng, hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền thông qua:

– Chính sách thuế: có tác động trực tiếp và gián tiếp đến nền kinh tế như định hướng đầu tư và tái đầu tư. Đối với đầu tư và tái đầu tư  ban hành khuyến khích đầu tư trong nước, thể hiện cụ thể về chủ trương của đảng và nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế , mọi người dân bỏ vốn sản xuất , kinh doanh. Trong luật khuyến khích đầu tư trong nước cũng ban hành các danh mục nghành nghề , danh mục các địa bàn khuyến khích đầu tư và chính sách ưu đãi cụ thể đối với từng địa bàn. Trong đó đặc biệt là các chính sách ưu đãi miễn giảm thuế được các thành phần kinh tế quan tâm và hoan nghênh; thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, vùng, lãnh thổ; khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh.

– Việc Nhà nước thiết lập cơ cấu hợp lý hệ thống thuế trực thu và thuế gián thu; các loại thuế suất và các mức thuế suất; các chế độ miễn giảm thuế; các quy định khuyến khích đầu tư và các nghĩa vụ về thuế đối với các thành phần kinh tế. Thông qua thu, chi Ngân sách Nhà nước thực hiện các mục tiêu:

+ Cung cấp nguồn kinh phí để nhà nước đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển những ngành, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt. Trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, phát triển những ngành, những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao, thu hồi vốn nhanh, ưu tiên các ngành mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trên thị trường…

+ Thông qua các khoản thuế và chính sách thuế sẽ đảm bảo vai trò định hướng phát triển sản xuất và hạn chế sản xuất kinh doanh.

+ hỗ trợ cho sự phát triển doanh nghiệp trong những trường hợp cần thiết để đảm bảo cho sự ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị chuyển đổi sang cơ cấu mới, hợp lý hơn.

+ tranh thủ nguồn vốn vay từ trong và ngoài nước để tạo nguồn vốn cho nền kinh tế nhằm thõa mãn nhu cầu đầu tư phát triển. Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn vốn vay phải đảm bảo nguyên tắc là không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển, phải có kế hoạch thu hồi vốn vay và đảm bảo cân đối ngân sách để chủ động trả hết nợ khi hết hạn.

Chính sách chi tiêu công. Từ các quỹ tiền tệ của Nhà nước, đặc biệt là ngân sách nhà nước, Nhà nước thực hiện các khoản chi tiêu công như: chi đầu tư phát triển, cho vay vốn tín dụng nhà nước, tài trợ vốn, góp vốn, trợ giá -> đã tạo ra động lực phát triển kinh tế cho khu vực công và khu vực tư, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính quốc gia; góp phần hoàn thiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; phát triển các vùng miền, khu vực và giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp cho xã hội.

– Góp phần ổn định thị trường giá cả, chống lạm phát (điều chỉnh trong lĩnh vực thị trường)

Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, sự đơn điệu về chế độ sở hữu, bó khung trong hai hình thức quốc doanh và tập thể đã dẫn đến sự phát triển yếu ớt của các quan hệ thị trường. Bên cạnh đó, cơ chế kinh tế chỉ huy với việc Nhà nước quyết định giá cả của hàng hóa, dịch vụ , chỉ định nơi cung cấp vật tư, tiêu thụ sản phẩm …cũng đã làm cho quan hệ thị trường kém phát triển. Trong cơ chế đó, sự vận động của giá cả, chi phí thoát ly quan hệ cung cầu của thị trường, sự biến động của chúng được che dấu bởi bao cấp nhà nước. Trong điều kiện hiện nay, vai trò của ngân sách nhà nước đối với các quan hệ thị trường trở nên lu mờ là điều tất yếu.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu phụ thuộc vào quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường. Do đó có thể ổn định giá cả, chính phủ có thể tác động vào cung hoặc cầu hàng hóa trên thị trường. Sự tác động này không chỉ được thực hiện thông qua thuế mà còn được thực hiện thông qua chính sách chi tiêu của ngân hàng nhà nước. Bằng nguồn vốn cấp phát của chi tiêu ngân sách nhà nước hàng năm, các quỹ dự trữ nhà nước về hàng hóa và tài chính được hình thành. Trong trường hợp thị trường có nhiều biến động, giá cả lên quá cao hoặc xuống quá thấp , nhờ lực lượng dữ trữ hàng hóa và tiền, chính phủ có thể điều hòa quan hệ cung – cầu hàng hóa, vật tư đủ bình ổn giá cả trên thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và ổn định sản xuất. Chính phủ cũng có thể sử dụng ngân sách nhà nước nhằm khống chế và đẩy lùi nạn lạm phát một cách có hiệu quả thông qua việc thực hiện chính sách thắt chặt ngân sách, nghĩa là cắt giảm các khoản chi tiêu ngân sách, chống tình trạng bao cấp, lãng phí trong chi tiêu, đồng thời có thể tăng thuế tiêu dùng để hạn chế cầu, mặt khác có thể giảm thuế với đầu tư, kích thích sản xuất phát triển để tăng cung.Ngoài ra chính phủ phát hành các công cụ nợ để vay nhân dân nhằm bù đắp thiếu hụt của ngân sách nhà nước cũng góp phần to lớn vào việc làm giảm tộc độ lạm phát trong nền kinh tế quốc dân.Cụ thể:

– Bằng công cụ thuế, chi tiêu và quỹ dự phòng . Nhà nước có thể chủ động tác động vào khía cạnh cung và cầu hàng hóa để bình ổn giá cả. Đặc biệt là là quy mô kinh phí cấp phát hình thành cho quỹ dự nhà nước và việc sử dụng quỹ dự trữ nhà nước đúng đắn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong điều kiện giá cả thị trường.

– Ngân sách nhà nước được được sử dụng như một công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát:

+) Đối với thị trường hàng hóa: hoạt động điều tiết của chính phủ thông qua việc sử dụng quỹ dự trữ của nhà nước bằng tiền, ngoại tệ, các loại vật tư hàng hóa… được hình thành từ nguồn thu của ngân sách nhà nước. Nói một cách tổng quát, cơ chế điều tiết là khi giá cả một loại hàng hóa nào đó lên cao, để kìm hãm và chống đầu cơ chính phủ đã đưa hàng hóa đó ra thị trường để tăng cung trên cơ sở đó sẽ bình ổn được giá cả và hạn chế được khả năng tăng giá đồng loạt, gây nguy cơ lạm phát cho nền kinh tế.  Còn khi  giá cả một loại hàng hóa nào đó giảm mạnh , có khả năng gây thiệt hại cho người sản xuất và tạo ra xu hướng di chuyển vốn sang lĩnh vực khác, chính phủ sẽ bỏ tiền ra mua các mặt hàng đó theo một giá nhất định đảm bảo quyền lợi cho người sản xuất . Bằng công cụ thuế và chính sách chi tiêu của NSNN, chính phủ có thể tác động vào tổng cung và tổng cầu để góp phần ổn định giá cả trên thị trường. Ví dụ: khi giá lúa giảm mạnh nhà nước sử dụng quỹ ngân sách nhà nước để mua lúa vào với giá cao hơn giá thương lái mua để đảm bảo rằng người trồng lúa có lãi khi bán. Khi lượng cung giảm  cầu tăng thì giá lúc đấy thương lái sẽ tăng giá và mua với giá cao hơn thì khi đó người bán mới có lãi…

+) Đối với thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường sức lao động, hoạt động điều tiết của chính phủ thông qua việc đồng bộ giữa các công cụ tài chính, tiền tệ , giá cả như: phát hành tráo phiếu, công trái, chi tiêu dùng của chính phủ cho toàn xã hội.

Như vậy thì thu, chi dự trữ nhà nước có tác đông rất lớn đấn quan hệ cung cầu và bình ổn giá cả trên thị trường .

+) Kiềm chế lạm phát được coi là mục tiêu trọng yếu trong điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế – xã hội của quốc gia. Lạm phát, với sự bùng nổ các cơn sốt về giá , gây ra những hiệu quả nặng nề cho nền kinh tế, cho người sản xuất và người tiêu dùng. Giữa lạm phát và hoạt động thu chi của NSNN luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì vậy có thể khẳng định, các giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát đều liên quan đến hoạt động của NSNN.

Khi xảy ra lạm phát: giá cả tăng lên do cung cầu mất cân đối cung nhỏ hơn cầu chính phủ có thể dụng biện pháp:

+) Tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư phát triển.

+) Thắt chặt các khoản chi tiêu của NSNN đặc biệt là chi tiêu dùng.

+) không phát hành tiền tệ để bù đắp thiếu hụt ngân sách.

+) Tăng cường các khoản vay nợ dân, góp phần giảm tiền mặt trong nền kinh tế.

Ví dụ: khi giá cả hàng hoá lên cao, có nguy cơ trở thành lạm phát, nhà nước có thể điều chỉnh tăng thuế thu nhập cá nhân để giảm cầu, miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp sản xuất.v.v. để nâng đỡ cung từ đó thúc đẩy cân bằng cung cầu, ổn định giá cả, hạn chế lạm phát xảy ra

Thứ ba, ngân sách nhà thực hiện công bằng xã hôi.

          Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tính chất bao cấp tràn lan cho mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội đã hạn chế đáng kể vai trò của ngân sách nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Trong thời kỳ này, mọi sự ưu tiên, ưu đãi của Nhà nước đều dành cho khu vực nhà nước. Những chế độ bao cấp về nhà ở, cung cấp lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dung với giá thấp… đã gây ra tâm lý sung bái biên chế Nhà nước, tâm lý trông chờ, ỷ lại vào nhà nước. điều đó một mặt làm giảm hiệu quả công tác, hiệu quả tiền vốn, mặt khác vừa tác động ngược chiều tới việc đảm bảo công bằng xã hội. Bên cạnh đó, sự bao cấp tràn lan cho các hoạt động có tính chất xã hội (các hoạt động sự nghiệp), song lại thiếu sự tính toán hợp lý về phạm vi, mức độ và hiệu quả của nó cũng dẫn đến những hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu về mặt xã hội.

Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy Nhà nước, lực lượng quân đội, công an, sự phát triển của các hoạt động xã hội, y tế, văn hóa có ý nghĩa quyết định. Việc thực hiện các nhiệm vụ này cơ bản thuộc về nhà nước và không vì mục tiêu lợi nhuận. Việc sử dụng những dịch vụ kể trên được phân chia giữa những người tiêu dùng, những nguồn tài trợ để thực hiện các nhiệm vụ có tính chất chung toàn xã hội, ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ các nhiệm vụ có tính chất chung toàn xã hội, hàng năm chính phủ vẫn có sự chú ý đặc biệt cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp nhất. chúng ta có thể nhận thấy điều đó thông qua các loại trợ giúp trực tiếp được dành cho những người có thu nhập thấp nhất hoặc có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, các loại trợ giúp gián tiếp cho các mặt hàng thiết yếu như: lương thực, thực phẩm, điện, nước…các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, các chương trình quốc gia lớn về chống mù chữ, chống dịch bệnh, các chi phí cho việc cung cấp các hàng hóa chuyên dụng, hàng hóa công cộng. Cụ thể như nhà nước trợ cấp cho con em có hoàn cảnh khó khăn đi học, người già, người không có sức lao động, nhiễm chất độc màu da cam, các hộ nghèo bằng nhiều hình thức khác nhau như trợ cấp xã hội, cho vay vốn với lãi suất thấp… với nhiều chương trình trợ giá điện nước cho những vùng khó khăn. Việc cứu tế cho đồng bào lũ lụt như miền trung quanh năm phải đối phó với bao nhiêu cơn bão việc tổn thất tài sản, thiếu lương thực thực phẩm là điều không thể tránh khỏi vì vậy mà nhà nước ta lúc này thật sự cần đến ngân sách nhà nước để cứu đói cho nhân dân qua lương thực thực phẩm như mì tôm, lương khô, nước uống đóng chai với số lượng lớn. Các chính sách 135 cho những vùng đặc biệt khó khăn, trợ giá điện nước, đưa ra các chính sách việc làm giúp những người có hoàn cảnh khó khăn và thất nghiệp bằng cách mở các trường dạy nghề trong đó các trường dạy nghề cho những người khuyết tật được nhân dân ủng hộ mạnh mẽ. Hỗ trợ cho những gia đình sinh ba, bốn…và các chính sách về dân số, sức khỏe khám miễm phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, tổ chức nhiều dịp khám miễn phí cho sức khoẻ của phụ nữ và người già. Hàng năm nước ta phải đối mặt với bao nhiêu loại dịch bệnh ở gia súc, gia cầm như H5N1, H7N9 ở gia cầm, long móng, lở mồm ở gia súc, động vật nuôi chết rét làm ảnh hưởng đến kinh tế của người dân lúc này nhà nước đã sử dụng ngân sách nhà nước để hỗ trợ cho họ . ví dụ một con heo mắc bệnh được hỗ trợ 1 triệu đồng…Tuy rằng mọi tầng lớp dân cư đều được hưởng các dịch vụ này, nhưng hiện nay ở nước ta, tỷ lệ người nghèo còn chiếm phần lớn trong dân cư nên phần được hưởng của người nghèo cũng lớn hơn.

Bên cạnh các khoản chi ngân sách cho việc thực hiện các vấn đề xã hội, thuế cũng được sản xuất để thực hiện vai trò tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. Việc kết hợp giữa thuế trực thu và thuế gián thu, một mặt vừa tăng cường các khoản thu cho ngân sách nhà nước , mặt khác vừa điều tiết thu nhập của tầng lớp có thu nhập cao, điều tiết tiêu dùng, đảm bảo thu nhập hợp lý của các tầng lớp người lao động . Thông qua thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm điều tiết những đối tượng có thu nhập cao để phân phối lại cho những người có thu nhập thấp. giảm chênh lệch giàu – nghèo trong xã hội, mỗi cá nhân góp phần chia sẻ trách nhiệm tài chính với quốc gia. Hiện tại cá nhân thu nhập trên 9 triệu mới phải đóng thuế thay cho 4 triệu trước đó. Theo thống kê của Bộ Tài chính (làm tròn số) năm 2009 cả nước thu thuế thu nhập cá nhân được hơn 14 ngàn tỷ đồng, năm 2010 tăng lên 26.200 tỷ đồng, năm 2011 là 38.500 tỷ đồng. Chiếm tỷ lệ cao nhất trong thu thuế thu nhập cá nhân là tiền lương, tiền công. Người nộp thuế ở bậc 1 chiếm gần 75% số người nộp thuế (2,6 trong số 3,8 triệu người đang nộp thuế thu nhập cá nhân)  điều này có ý nghĩa rất lớn tới việc nhà nước sử dụng ngân sách nhà nước để thự hiện công bằng xã hội.

Thông qua các công cụ thuế để phân phối lại thu nhập , rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu và nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội bằng cách đánh thuế cao đối với người có thu nhập cao hay những mặt hàng xa xỉ như ô tô, nước hoa, sữa tắm, dầu gội, rượu…. Mà những người  có thu nhập cao mới có khả năng sử sụng để điều tiết thu nhập của họ

Đồng thời giảm thuế cho những mặt hàng thiết yếu cung cấp chủ yếu cho những người có thu nhập thấp như lương thực, thực phẩm, điện , nước…)là một giả pháp chủ yếu để hỗ trợ cho người có thu nhập thấp.

Thông qua chương trình chi tiêu công: từ các quỹ tiền tệ thuộc quyền sở hữu của nhà nước như ngân sách nhà nước, các quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ quốc qia giải quyết việc làm, chính sách chi tiêu công được sử dụng để hỗ trợ cho những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những người không có việc làm, hay chi phát triển các dịch vụ công phục vụ lợi ích cho cộng đồng không vì mục tiêu lợi nhuận để đảm bảo công bằng xã hội.

Ví dụ: đầu tư nâng cấp hoặc xây dựng mới các công trình thuộc lĩnh vực hạ tầng kinh tế – xã hội ở những vùng núi, hải đảo, tài trợ cho việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ tài chính cho giải quết việc làm.

Như vậy qua phân tích lý luận và thực tiễn của ngân sách nhà nước thấy được tầm quan trọng của nó đối với quá trình nhà nước ta thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. Ngoài những việc đã làm được như:

+) Đầu tư cho phát triển kinh tế quốc doanh xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật như : điện, đường, trường, trạm để nâng cao đời sống xã hội, chất lượng cuộc sống.

+) bảo vệ nền độc lập chủ quyền cụ thể  vào việc chi cho an ninh quốc phòng một khoản lớn. giữ gìn an ninh trật tự tạo môi trường về chính trị điều đó sẽ là cơ sở để thu hút sự đầu tư, phát triển nền kinh tế ;

         +) Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ;

+) Củng cố tăng cường đối ngoại.

Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn và cần khắc phục  

+)chi tiêu ngân sách nhà nước chưa hiệu quả , lãng phí, chưa hợp lý giữa cơ cấu tỷ lệ cho các ngành, các lĩnh vực trong đời sống xã hội và kinh tế. Ví dụ như y tế chưa được quan tâm đúng mức , cấp vốn tràn lan cho nhiều dự án mà không xét đến tính hiệu quả và khả thi của nó khiến nhiều dự án thất bại và tổn thất nhiều kinh phí của nhà nước. Một ví dụ điển hình đó là dự án vinashin do như năng lực quản trị kém, đầu tư dàn trải, vô trách nhiệm, tự thất bại của chủ nghĩa duy ý chí,…ảnh hưởng tới nền kinh tế.

+) Còn nhiều biểu hiện tiêu cực gây thất thoát tài sản. Đã có rất nhiều vụ thất thoát tài sản được đưa ra tòa như Nguyễn Kế Quang, nguyên Giám đốc và Trần Hùng Tân, nguyên Phó giám đốc Công ty xây dựng – phát triển đô thị Bình Định về tội cố ý làm trái quy định Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng… đây chỉ là “một hạt cát trong đại dương” chính vì vậy mà còn nhiều khó khăn;

+) Chi tiêu chưa công bằng nên công chúng không chúng không có ấn tượng tốt, mạnh trong nhận thức. Chẳng hạn khi trợ giá điện, xăng, dầu, công tác tuyên truyền …thì những đối tượng được hưởng không phải là người nghèo mà chính là những người có thu nhập trung bình hoặc cao.

+) Thất thu trong ngân sách nhà nước , thu chưa có nhưng quy tắc điều chỉnh thích hợp về mức tỷ lệ thu nhập và trợ cấp cho từng đối tượng cụ thể.

Các biện pháp khắc phục:

+) Giáo dục nâng cao cán bộ tài chính về nghiệp vụ, nâng cao nhận thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức;

+) Kế hoạch hóa và lựa chọn mục tiêu các hoạt động tài chính của ngân sách nhà nước là một cách hiệu quả, áp dụng những mô hình quản lý tiên tiến ;

+)Nâng cao chất lượng thẩm định đánh giá dự án đầu tư và những chương trình đầu tư ưu tiên nhằm lãng phí không hiệu quả;

+) Xây dựng những cơ chế điều tiết thống nhất kế hoạch, công bằng hợp lý trong chính sách thu nhập và phân phối;

+) không phát hành tiền với mệnh giá cao.

+) quản lý chặt chẽ vấn đề thu chi.

+) Chú trọng vào các công trình giáo dục, y tế, phúc lợi, phát triển con người;

+) Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm loại trừ tiêu cực trong các hoạt động thu nhập và chi tiêu ngân sách Nhà nước.

Tác giả: Nguyễn Thành Viên

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s