Thuyết Luân hồi – Hạo Nhiên

nhaquanlytuonglai 35
Thuyết Luân hồi trong Phật giáo
I. Mở đầu

Có lẽ trong cuộc đời ai cũng từng có những khúc mắc trong lòng. Một là con người ai cũng bị sinh, lão, bệnh, tử khổ như nhau, vậy chúng ta từ đâu tới? Hai là sau khi chết, ta sẽ đi về đâu? Ba là muốn thoát khỏi vòng sinh tử đó thì phải làm như thế nào? Tìm đến thuyết luân hồi – một trong những giáo lý cơ bản của Phật giáo – ta sẽ có được câu trả lời cho ba câu hỏi trên. Đó cũng là ba vấn đề tối trọng của kiếp con người.

II. Nội dung

1. Khái niệm luân hồi

Luân là bánh xe; Hồi là xoay tròn. Luân hồi là xoay vần trong khuôn khổ cố định. Mọi sự đổi thay, biến chuyển không đứng yên ở một vị trí nào. Hằng xê dịch, biến thiên từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ hình tướng này sang hình tướng khác. Tất cả sự biến thiên đều tùy duyên thăng trầm không nhất định gọi là Luân Hồi.

2. Luân hồi là có thật

2.1. Trái đất luân hồi

Xin mượn lời phát biểu của Đại đức Thích Thanh Huân, trụ trì chùa Pháp Vân để mở đầu phần chứng minh luân hồi là có thật trong cuộc sống:

“Kiếp luân hồi là ngôi nhà chung của nhân loại, thoạt nghĩ kiếp luân hồi là chuyện cao siêu trong Phật Pháp, tuy nhiên đây được coi là vòng xoay trong muôn loài dù được thừa nhận hay không, thuyết luân hồi là sự hiển nhiên có thật trong cuộc sống”.

Khoa học đã chứng minh trái đất ta đang sống xoay tròn quanh một cái trục trong không gian. Do đó, phía nào có mặt trời thì sáng, phía bị khuất thì tối. Từ đó con người đặt ra thời gian, ngày đêm và các mùa trong năm. Đó chẳng phải luân hồi hay sao? Trái đất là chỗ nương tựa của vạn vật và con người, bản thân nó luân hồi thì những vật tựa nương vào nó không thoát khỏi luân hồi.

2.2. Vạn vật luân hồi

Về sinh vật, cây do hạt nảy mầm sinh trưởng và phát triển mà thành, rồi cây lại sinh hạt, hạt lại mọc thành cây, đảo đi lộn mãi không cùng. Các loài động vật thì từ trứng nở thành con, con lại sinh trứng hoặc từ bào thai hình thành, khi trưởng thành lại có bào thai loanh quanh luẩn quẩn không cùng. Đó là luân hồi trong sự tiếp nối. Ngay bản thân sinh vật cũng bị luân hồi, chúng trưởng thành do đất, nước, gió, lửa khi tan hoại lại trở về thành đất, nước, gió , tự lại tán ra theo duyên biến chuyển chẳng cùng. Ngay bản thân đất, nước, gió, lửa cũng luân hồi. Ví như sáng đem đặt một bát nước ngoài trời nắng, đến chiều bát nước đã cạn khi một nửa. Thực ra nước chẳng phải mất đi mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Nước là thể lỏng, gặp nắng nóng bốc lên thành thể hơi, rồi thành những đám mây, mây lại rơi xuống thành nước, cứ mãi luân hồi không cùng. Gió, lửa, đất cũng vậy.

2.3. Con người luân hồi

Nói đến con người, người ta thường nghĩ con người tực nhiên và con người xã hội hay con người vật chất và con người tinh thần. Hai phần đó cấu thành nên con người, từ đó mà sự luân hồi trong bản thân con người cũng được chia thành vật chất luân hồi và tinh thần luân hồi:

– Vật chất luân hồi. Vật chất nơi con người được chia làm bốn phần: đất (da, thịt, gân, xương, tóc, lông, răng, móng…), nước (máu mủ, mồ hôi, đờm dãi, nước mắt, nước mũi…), lửa (nhiệt độ trong cơ thể), gió (hơi thở). Bốn thứ này không thể thiếu đối với sự sống của con người.

+ Đất luân hồi: Hàng ngày chúng ta vay mượn từ đất các chất bột (đất) rồi lại trả lại cho đất, hợp lại tan ra, tan ra hợp lại là luân hồi.

+ Nước luân hồi: Máu từ tim chạy khắp các mạch rồi lại trở về tim, tuần hoàn như thế là luân hồi. Khi sống mượn nước đem bồi bổ chất ướt trong thân khi chết chảy ra trở về lòng đất, mượn trả liên tục như thế là luân hồi.

+ Gió luân hồi: Hít không khí vô, thở không khí ra, hít vô thở ra cả đời như vậy là luân hồi. Nhờ cái động của thở hít không khí mà các cơ quan trong toàn thân hoạt động, các cơ quan hoạt động là thân sống. Đến khi thở không khí ra mà không hít lại, liền ngừng hoạt động, tức là thân chết. Thế thì là sự sống của thân này đích thực do luân hồi của gió, gió ngưng luân hồi thì thân phải hoại diệt.

+  Lửa luân hồi: Do những thức ăn có chất nóng nuôi dưỡng phần lửa trong thân. Lửa dùng sưởi ấm toàn thân, thiêu đốt vật thực, lại do vật thực bồi bổ chất lửa. Cứ tiêu dùng bồi bổ, bồi bổ tiêu dùng, đảo đi lộn lại là luân hồi. Khi tiêu dùng mà không bồi bổ kịp, lửa từ từ tắt, con người chết. Lửa ấy trở về với thiên nhiên, tùy duyên chuyển biến trong không gian, mà chưa bao giờ mất là luân hồi.

Tóm lại, tứ đại tụ họp quân bình nhau là con người sống khoẻ mạnh, nếu thiếu quân bình là ốm đau, phân tán thì tử vong. Trong khi tứ đại tụ họp trong thân này luôn luôn biến chuyển tuần hoàn, không được ngăn trệ ứ động. Vừa bị ngăn trệ ứ động là thân này nguy ngập. Sự biến chuyển tuần hoàn của tứ đại trong thân con người gọi chung là vật chất luân hồi. Sở dĩ nói luân hồi vì biến chuyển mà không phải mất hẳn.

– Tinh thần luân hồi( tâm sở luân hồi): Phần tinh thần của chúng ta luôn luôn thay đổi bất thường, không bao giờ đứng yên ở một vị trí. Những thứ buồn vui, yêu ghét, thương giận, lành dữ, phải quấy… thường thay mặt đổi mày như trên sân khấu. Có khi chúng ta hiền lành như ông Phật, có lúc giận dữ như con cọp đói. Nhiều lúc vui vẻ yêu thương, lắm khi bực bội thù địch. Những tâm trạng đổi thay không lùi được, chính tự thân chúng ta cũng không thể ước đoán nổi tâm trạng củ minh sẽ xảy ra những cái gì. Sự buồn vui thương ghét đổi thay thăng giáng nơi nội tâm chúng ta là luân hồi.

Nói chung con người chúng ta, hai phần vật chất lẫn tinh thần đều là tướng trạng của luân hồi. Sự luân hồi của chúng ta là sự hoạt động sống còn của ta. Biết rõ vật chất tinh thần chỉ đổi thay hình tướng trạng thái, chứ không một vật nào mất. Nếu thấy mất chẳng qua do cái nhìn cạn cợt nông nổi mà kết luận như thế. Thực thể của nó là “biến thiên mà bất diệt”. Thấy đến chỗ tận cùng ấy, mới khỏi nghi ngờ về lý luân hồi. Sự luân hồi ngay trong hiện tại này là hiện tại luân hồi. Đến sự tụ lại tan ra, tan ra tụ lại của thân con người là luân hồi đời này sang đời khác.

Để chứng minh luân hồi là có thật xin lấy hai ví dụ sau:

 Cậu bé Bùi Lạc Bình, 9 tuổi ở thị trấn Vụ Bản tỉnh Hòa Bình được coi là một minh chứng rõ nét về kiếp luân hồi của con người.

Cậu được coi là “người lộn” của Nguyễn Phú Quyết Tiến, sinh năm 1992 nhưng đã bị chết đuối khi lên 5 tuổi. Từ nhỏ, Bình đã tỏ ra là một người không bình thường khi luôn nhận mình là Tiến và không nhận bố mẹ đẻ của mình mà đòi về với bố mẹ khác. Đó là anh Tân và chị Thuận ở cách nhà bình 3 km là bố mẹ của Nguyễn Phú Quyết Tiến người đã bị chết đuối 10 năm về trước khiến cho mọi người trong gia đình và người dân địa phương hết sức ngỡ ngàng.Khi lên 6 tuổi, Bình đòi mẹ đẻ đưa về nhà của mình. Tức giận mẹ của bé cho bé lên xe và chở ra thị trấn với mục đích cho bé đi chơi nhưng ngạc nhiên là Bình đã chỉ đường một cách rành rọt cho mẹ đẻ đến nhà mà Bình cho là nhà mình và cuối cùng hai mẹ con đã đến nhà của anh Tân và chị Thuận là bố mẹ của Nguyễn Phú Quyết Tiến, nhưng không có ai ở nhà. Sau khi nghe tin đồn anh Tân đã tìm đến nhà Bình, khi nhìn thấy anh Tân, Bình liền gọi bố và lao vào ôm lấy anh Tân như đã quen thân. Sau đó anh Tân xin phép cho Bình về nhà chơi và nhiều lần thử Bình xem có đúng là con mình không, như hỏi Bình về những chuyện ngày xưa của con trai mình nhưng tất cả đều được Bình trả lời rất thuyết phục khiến vợ chồng anh Tân tin Bình chính là người lộn của con trai mình. Sau đó bé Bình luôn đòi về nhà anh Tân sống nên gia đình bé đã phải đồng ý. Hiện nay, Bình đang sống với bố mẹ “nuôi” rất hạnh phúc. Bé vấn đi học và vui chơi với các bạn một cách bình thường. Câu chuyện của Bình đã được thiền sư Thích Tâm Hiệp viết trong cuốn Hương Hiếu Hạnh về việc đầu thai li kì mà có thật này.

 Báo Pháp văn “Le Populaire”, xuất bản ngày 20/08/1936 tại Sài Gòn, cho biết tại Delhi – Ấn Độ có một đứa bé gái 9 tuổi, tên Shanti Devi mà từ 6 năm rồi nói về kiếp trước cho cha mẹ nghe mãi; vốn sinh trưởng ở Delhi chưa bao giờ đi đâu cả mà muốn đến thành Muttra để thăm, theo nàng nói chồng nàng làm chủ tiệm may ở đó. 

Nàng cứ nài nỉ như vậy mãi rồi cha mẹ nàng cũng phải dò hỏi tin tức và thấy quả nhiên đúng như lời nàng nói. Vài thân nhân của chủ tiệm may nghe vậy bèn đến Delhi xem sao thì nàng nhận biết ngay. Người chủ tiệm đến khi bước chân vào nàng chạy lại ôm cổ reo mừng “chồng tôi đến đem tôi về đấy” nhưng chủ tiệm có dẫn theo đứa con trai 11tuổi, nàng chỉ và nhận là con nàng. Nàng còn kể lại vài chi tiết xác nhận đúng là kiếp trước của nàng sinh vào năm 1902, tên là Ludgi chết ngày 24/10/1925 tại thành Agra còn con nàng sinh năm 1925.

Những lời tiết lộ ấy làm cho những người ở Delhi vô cùng ngạc nhiên . Thế rồi họ mở ra một cuộc thí nghiệm được dẫn đến thành Muttra nàng nhận biết ngay những người bà con của người chồng đang đứng tại ga xe lửa.

       Người ta đặt nàng tại một cỗ xe và bịt mắt nàng lại thế mà nàng vẫn chỉ đúng đường cho xe chạy, đi qua nhà ai nàng cũng chỉ mà nói đúng cả. Sau cùng nàng bảo ngừng xe đúng trước cửa nhà nàng. Diện mạo của Shanti Devi vốn không giống Ludgi , trái lại từ giọng nói đến tính tình và cử chỉ đều y như của Ludgi cho nên chủ tiệm may muốn giữ Shanti Devi lại và cho rằng Shanti Devi là Ludgi. Tuy còn phải đợi Ủy ban điều tra quyết định ra sao nhưng chàng vẫn đinh ninh tin rằng hồn vợ chàng đã nhập vào xác con bé Shanti Devi đó vậy.

3. Lục đạo luân hồi

3.1   Lục đạo luân hồi

Hình ảnh bánh xe luân hồi

Lục là 6; đạo là con đường. Sáu cõi (gọi là lục đạo) là 6 cảnh giới khác nhau dành cho chúng sanh, tùy theo nhân quả thiện ác thế nào mà đầu thai về nơi ấy. Sáu cõi gồm có:

– Thiên (Nguyên nghĩa là có thân sáng láng):

  Thiên là cảnh giới của những chúng sinh vô hình, phần nào tương tự như những “thiên thần”, có thân xác vi tế hơn con người, sống trong những điều kiện dễ dàng hạnh phúc hơn, đời sống cũng lâu dài hơn con người rất nhiều. Tuy nhiên, về mặt trí tuệ, chư Thiên thường không hơn con người. Họ sinh ra theo kiểu hóa sinh (nghĩa là bỗng nhiên xuất hiện dưới hình thức một thiếu nữ hay một thanh niên, không phải nhờ tới ai làm cha mẹ sinh mình ra cả). Chư Thiên cũng có nhiều loại, nhiều đẳng cấp khác nhau (dục giới, sắc giới, vô sắc giới, mỗi giới lại phân thành nhiều cảnh Trời khác nhau), mức độ hạnh phúc và cách thế sống hay tuổi thọ giữa các loại, các cấp cũng khác nhau, nhưng khi hưởng hết phước vẫn có thể sa đọa xuống những cõi khác thấp hơn.

–  Nhân :

Cảnh giới của con người với những điều kiện sống khó khăn hơn, trong đó hạnh phúc và đau khổ lẫn lộn. Ðây là cảnh giới thuận lợi nhất để tu giải thoát nhờ có sự quân bình tương đối giữa sướng và khổ. Vì thế, các vị Bồ Tát thường chọn tái sinh vào cảnh giới này, do có nhiều hoàn cảnh thuận lợi để phục vụ và thực hành những pháp môn cần thiết để thành Phật. Kiếp cuối cùng của Bồ Tát luôn luôn ở cảnh người.

– A-tu-la :

A-tu-la là một loại thần tánh tình hung hăng nóng nảy, lại thêm tà kiến, si mê, tin theo tà giáo. Cảnh giới này là cảnh giới của những chúng sanh tạo nhiều nghiệp sân hận, giống như cảnh giới thấp nhất của Chư Thiên (dục giới), nghĩa là thuộc thế giới vô hình, nhưng có rất nhiều đau khổ tinh thần. Ðó là nơi tập trung những chúng sinh nhiều tham vọng, ham quyền lực, kiêu căng, ghen tị, hay có chiến tranh…, tuy điều kiện vật chất dễ dàng hơn con người. Nhiều học giả xếp cảnh giới Atula ngay sau cảnh giới Thiên, rồi mới tới Nhân, vì xác thân họ, điều kiện sống của họ gần với Chư Thiên hơn. Cảnh giới này khiến ta liên tưởng tới cảnh giới của Satan là thiên thần sa ngã, còn cảnh giới của Chư Thiên như cảnh giới của các thiên thần tốt lành.

– Ngạ quỷ:

Ngạ quỷ (Nghĩa là quỉ đói) là cảnh giới của những chúng sinh tham lam vật chất (tiền bạc, của cải, lạc thú thể chất như ăn uống, nhục dục…) lúc nào cũng khao khát những thứ đó nhưng không bao giờ được thỏa mãn, khiến họ luôn luôn khổ đau. Ðời sống của họ dài và đau khổ. Thân xác của họ vi tế hơn con người, nên mắt thương của con người không thấy được. Cảnh giới của họ không phải là một tinh tú riêng biệt. Họ thường sống trong rừng bụi, ở những nơi dơ bẩn trên mặt đất, và sinh sống bằng những thực phẩm thừa thãi hoặc thiu thối của con người hay của những động vật khác.

– Súc sanh:

Cảnh giới của loài vật mà chúng ta vẫn thấy: thú vật, chim chóc, cá… là những chúng sinh ít hiểu biết, kém ý thức, có đời sống rất thấp kém, hầu như không có đời sống tinh thần. Chúng thường xuyên phải sống trong sợ hãi (bị thú khác hoặc bị người giết ăn thịt, hoặc bị thúc đẩy đi giết các thú khác), nỗi sợ chung là sợ đói. Gia súc thì bị con người nuôi để ăn thịt, để giải trí. May mắn cho chúng ở chỗ đời sống chúng ngắn ngủi và ý thức trí tuệ chúng kém cỏi nên những đau khổ của chúng qua mau và hời hợt, không sâu sắc. Nhưng không may ở chỗ chúng khó có cơ hội để làm công đức, không đủ trí tuệ để tu tập thoát khỏi kiếp lầm than đó.

–  Địa ngục:

Cảnh giới của những chúng sinh độc ác, hận thù, ích kỷ, ghen ghét, hay giận dữ, thích gây đau khổ cho người khác. Họ phải chịu những cực hình rất đau đớn, khắc nghiệt để trả quả cho những hành vi bất thiện đã tạo trong quá khứ. Ðời sống trong các địa ngục dài hay ngắn tùy theo từng địa ngục khác nhau. Mỗi địa ngục có một sắc thái riêng, với những cực hình khác nhau tương xứng với tội ác đã phạm. Sau thời gian có thể rất lâu tại đây để đền tội, tội nhân có thể ra khỏi để làm lại cuộc đời mới, trong một kiếp sống mới tốt đẹp hơn, để rồi về sau có thể trở thành Phật. Chính Ðức Phật, trong một vài tiền kiếp, đã từng sa địa ngục vì đã phạm những trọng tội.

“Muốn biết nhân đời trước,

Xem sự hưởng đời nay,

Muốn biết quả đời sau,

Xem việc làm kiếp này.”

(Trích Kinh Nhân Quả Ba Đời,  HT Thích Thiền Tâm dịch)

Thật vậy, trong thuyết luân hồi của Phật Giáo, các kiếp liên tiếp nối theo nhau như một chuỗi mắt xích dài vô tận. Kiếp này là quả của kiếp trước và là nhân cho kiếp sau. Do đó các kiếp sống có vô số mức khổ sướng khác nhau, và không phải kiếp nào chúng sinh cũng là người cả. Có nhiều loại chúng sinh trong vòng luân hồi, chúng sinh loại này sau khi chết có thể biến thành chúng sinh loại khác. Chẳng hạn thú biến thành người, người biến thành thiên thần, v.v… và cũng có thể biến ngược lại. Vì vậy, việc đọa vào đường nào trong lục đạo luân hồi là do nhân quyết định, gieo nhân nào gặt quả nấy. Cụ thể:

-Thiên:

Để có thể đầu thai vào cõi trời thì phải tu tập thập thiện nghiệp. Đó là:

+ Không sát sinh: từ bi, không sát hại sẽ được khỏe mạnh trường thọ

+ Không trộm cắp: Ngay thẳng, không lấy của người, sẽ được giàu sang, an ổn

+ Không tà dâm: Trong sạch, không quan hệ bất chính, sẽ được xinh đẹp, hạnh phúc

+ Không nói dối: Chân thật, không dối gạt, sẽ được uy thế, tiếng tăm

+ Không thêu dệt: Trung thực, không xảo ngôn, sẽ được mọi người quý mến

+ Không đâm thọc: Hòa hợp, không nói lời ly gián, sẽ được nhiều người ủng hộ

+ Không nói thô ác: Hòa nhã, không cay nghiệt, không thô tục sẽ được cao sang

+ Không san tham: Rộng rãi thí xả, sẽ được vô lượng phước báo

+ Không sân hận: Từ hòa nhẫn nại sẽ được vô lượng duyên lành

+ Không si mê: Sáng suốt, tỉnh giác sẽ được vô lượng trí tuệ.

– Nhân:

Để có thể tiếp tục đầu thai hưởng quả trong kiếp người cần tạo nhân tu tập giữ theo Ngũ giới. Cụ thể, đó là :

+ Không sát sinh

+ Không trộm cắp

+ Không tà dâm

+ Không nói dối

+ Không uống rượu

– A-tu-la:

 Người đọa vào cõi a-tu-la là do tạo nhân sân hận, hiếu chiến, thường giận dữ, gây gổ. Thế nên, những người làm nhiều việc thiện mà không trừ được tâm sân hận vẫn phải sanh vào cõi A-tu-la.

– Ngạ quỷ:

Tạo nhân tham lam, bỏn sẻn, không biết bố thí, giúp đỡ người khác, hoặc trộm cắp cướp đoạt sẽ phải đạo vào kiếp ngạ quỷ.

– Súc sanh:

 Người phải đầu thai vào kiếp súc sinh là do tạo nhân si mê, sa đọa, không phân biệt tốt xấu, tin theo tà kiến.

– Địa ngục:

Người bị đày xuống địa ngục là do tạo nhiều nghiệp ác nặng nề, phạm vào một trong ngũ nghịch đại tội(giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, phá sự hòa hợp của Tăng chúng và làm thân Phật chảy máu hoặc không cung kính, làm ô uế hình tượng Phật), làm những điều trái ngược với luân thường đạo lý.

Tất cả các cảnh giới trên đều bị chi phối bởi luật Vô Thường, nên không có ai ở mãi trong một cảnh giới nào cả. Không có một điều phúc đức nào vô cùng để đáng thưởng vô thời hạn trong một cảnh giới hạnh phúc nào đó. Và không có một tội ác nào lớn tới mức vô cùng để đáng bị phạt đời đời tại một cảnh giới đau khổ nào đó. Do đó, chúng sinh cứ trôi lăn trong lục đạo mãi, hết ở cảnh khổ lại qua cảnh sướng, hết cảnh sướng lại rơi lại vào cảnh khổ. Cho tới một lúc nào đó, chúng sinh giác ngộ được con đường giải thoát, và quyết tâm tu tập thành Phật, thì mới ra khỏi cái vòng luân hồi luẩn đó. Trong lục đạo, chỉ có hai cảnh giới được coi là sướng, là cảnh giới Thiên và Nhân, nhưng cảnh giới Nhân là quí hơn cả. Xét về mặt hạnh phúc thì cảnh giới Thiên có nhiều điều kiện thuận lợi hơn, nhưng chính vì vậy mà họ bị ru ngủ không muốn tìm sự giải thoát thật sự, để rồi khi họ hưởng hết phúc lành, họ lại rơi vào một cảnh giới khổ hơn. Các Atula thì tâm trí bị thu hút vào việc tranh cãi hơn thua, các ngạ quỉ thì quan tâm đến những thèm khát không được thỏa mãn, súc sinh thì u mê chỉ nghĩ đến thức ăn và thỏa mãn tính dục, còn ở địa ngục thì mọi chúng sinh bị hành khổ đủ cách nên không còn đầu óc đâu mà nghĩ đến đạo giải thoát. Chỉ có con người có sướng có khổ một cách tương đối quân bình, nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát tâm đi tìm con đường giải thoát. Chỉ có con người là có nhiều tự do quyết định hơn cả, có đầu óc sáng suốt hơn cả để có thể đạt tới trí tuệ giải thoát. Trong lục đạo, chỉ có con người có nhiều cơ may, nhiều khả năng để thành Phật nhất. Do đó, theo Ðức Phật, được làm người là cả một cơ hội quí báu không nên uổng phí. Kinh Duy-Ma-Cật, Phẩm 8 (Phật Ðạo) nói rõ điều đó.

Theo Phật Giáo, chúng sinh không phải chỉ có ở trái đất này, mà còn ở trong hằng hà sa số các hành tinh khác. Chúng sinh nhiều vô cùng tận, và hệ thống tinh tú để chúng sinh ở cũng vô cùng tận. Trong Kinh Tăng-Nhất A-Hàm, Phật nói: “Không thể đi đến mức cùng tận của thế gian”. Về vấn đề chúng sinh, khoa học ngày nay chưa thể kiểm chứng được những điều Phật dạy. Nhưng về hệ thống tinh tú, thì các nhà khoa học thời nay đã nhìn nhận: Không thể xác định được vũ trụ đến đâu là cùng tận. Số tinh tú mà các nhà thiên văn học khám phá được đã nhiều hơn gấp bội dân số thế giới hiện nay. Vì thế, giữa muôn tỉ tinh tú, có vô số tinh tú lớn gấp triệu lần trái đất này, mà tin rằng chỉ trái đất mới có sự sống hay có loài người, thì quả là tin một điều hết sức mạo hiểm, xác xuất đúng hết sức nhỏ bé. Do đó, điều Phật nói rằng có chúng sinh ngoài trái đất này có rất nhiều khả năng đúng. Riêng về thiên văn học, quan niệm của Ðức Phật đã đi trước thế giới cả hàng ngàn năm, thậm chí 2000 năm.

Các chúng sinh trong cảnh giới này có thể đầu thai sang cảnh giới khác, trong tinh tú này có thể đầu thai sang tinh tú khác, tùy theo sự đòi hỏi của nghiệp lực khiến ta phải đầu thai vào nơi nào thích hợp nhất với ta tại thời điểm đó. Chẳng hạn như ngay giây phút này, một chúng sinh ở trái đất này vừa chết và cần có chỗ đầu thai thích hợp với nghiệp của mình. Nhưng vào giây phút đó, tại trái đất này không có một nơi nào để đầu thai phù hợp cả: những nơi có thể đầu thai được (do noãn và tinh gặp nhau), thì cha mẹ hay hoàn cảnh không phù hợp, còn những cha mẹ phù hợp thì lại không thụ thai vào thời điểm đó. Mà trong muôn tinh tú kia, thế nào chả có nơi thích hợp vào thời điểm đó? Ðương nhiên nơi nào gần nhất vẫn là ưu tiên. Vì thế, việc chuyển kiếp sang tinh tú khác thường hay xảy ra. Do đó, có những trường hợp chúng sinh ở tinh tú này càng ngày càng tăng lên, đang khi ở một tinh tú khác càng ngày càng giảm đi. Ðiều đó giải thích tại sao dân số địa cầu càng ngày càng tăng lên: cách đây mấy ngàn năm dân số thế giới chỉ tính bằng triệu, nhưng hiện nay phải tính bằng hàng tỉ, đang khi theo giáo thuyết của Phật, con số chúng sinh không hề tăng lên hay giảm đi. Vả lại, chúng sinh không phải chỉ là loài người, mà còn là nhiều loài khác trong lục đạo có thể chuyển đổi cho nhau. Hơn nữa, theo Phật tổ thì số chúng sinh nhiều vô tận: một con vi trùng cũng là một chúng sinh, mà một người trí tuệ cao cả như Phật tổ cũng là một chúng sinh.

Theo Phật Giáo thuần túy, hiện tượng tử-sinh, tức chết rồi đi đầu thai sang kiếp khác, xẩy ra ngay tức khắc, bất cứ ở nơi nào, cũng như làn sóng điện phát ra trong không gian được thâu tức khắc vào bộ máy thu thanh. Luồng nghiệp lực trực tiếp chuyển từ chết sang tái sinh ngay tức khắc, không trải qua một trạng thái chuyển tiếp nào cả. Nghĩa là không có chuyện linh hồn người chết phải tạm trú ở một nơi nào đó chờ đến khi tìm được một nơi nào thích hợp mới đi đầu thai. Như vậy là chết lúc nào thì đầu thai lúc đó, và luôn luôn có một nơi thích hợp trong vũ trụ để đầu thai. Vì vũ trụ là một bộ máy rất hòa hợp, mọi chuyện tự nhiên dù có vẻ ngẫu nhiên nhưng vẫn luôn luôn ăn khớp với nhau. Như vậy, theo Phật Giáo nguyên thủy, nếu hai người cùng chết một lượt thì sẽ đầu thai cùng một lúc ở hai nơi khác nhau, cho dù một nơi rất gần còn nơi kia rất xa. Tương tự như hai người ở cùng một chỗ có thể nghĩ đến hai nơi ấy cùng một lúc, không vì nơi này xa mà phải nghĩ đến sau nơi kia.

Tuy nhiên, về sau, nhiều thuyết cho rằng chỉ có những chúng sinh có nghiệp lực mạnh mới tái sinh ngay tức khắc, nghĩa là những người đã phạm nhiều tội ác thì tâm thức của họ sẽ bị những cảnh giới xấu thu hút ngay, hay những người đã làm rất nhiều việc thiện sẽ được những cảnh giới lành rút về ngay. Còn những người thuộc loại trung bình, không xấu lắm và cũng không tốt lắm, thì tâm thức họ có thể ở trong cõi trung ấm, và có thể dùng tư tưởng để tạo cho mình một xác thân bằng thanh khí của cõi trung ấm (cõi đó cũng chiếm cùng một không gian với cõi dương gian, ví như nước và miếng bọt biển có thể cùng chiếm một không gian và lồng vào nhau). Tâm thức ấy chỉ ở trong cõi trung ấm khoảng 49 ngày. Trong thời gian này, tâm thức vẫn có thể thay đổi tư tưởng (chẳng hạn quyết tâm trở nên tốt đẹp hơn, hay bị lôi cuốn vào những sân hận mới…) để có thể đầu thai vào những hoàn cảnh tốt đẹp hơn hoặc xấu xa hơn. Tối đa là 49 ngày, tâm thức phải đi đầu thai. Vì thế, trong vòng 49 ngày sau khi một người chết, thân nhân của người ấy có thể làm lễ cầu siêu cho người ấy.

4. Động cơ luân hồi

Động cơ thúc đẩy chúng sinh cứ trôi lăn mãi trong lục đạo luân hồi đó là nghiệp (sở duyên của nghiệp là do vô minh, tham ái, chấp thủ) nên không thể giải thoát luân hồi.

Vậy, nghiệp là gì?

Nghiệp là hành động từ thân tâm con người tạo thành. Về phương diện nghiệp nhân, trong kiếp sống, loài người khi gây Nhân có ba điều khái yếu: nghiệp thiện, nghiệp chướng và bất động nghiệp. Bất động nghiệp là những nhân thiền định như thế gian thiền, ngoại đạo thiền, xuất thế gian thiền…  Khi thành nghiệp rồi nó thúc đẩy dẫn dắt con người đến chỗ thành quả của nó. Cơ quan tạo nghiệp có ba thứ: thân, miệng, ý. Từ đó tạo thành nghiệp cả nghiệp thiện lẫn nghiệp ác.

 Nghiệp ác là hành động làm cho người khổ và mình khổ, hoặc ở hiện tại hay ở vị lai. Hành động này do ba cơ quan tạo nên: thân, miệng, ý.

– Thân làm ác: Để cho thân buông lung thích hành động giết hại sanh mạng người, hoặc thích trộm cướp tài sản người, hoặc đắm say dâm dật trái phép, là nghiệp ác của thân. Vì hành động này làm cho người khổ và mình khổ, nếu hiện tại chưa đến thì vị lai cũng chịu.

– Miệng làm ác: Miệng ưa nói lời dối trá, lời ác độc, lời ly gián, lời thêu dệt, là nghiệp ác của miệng. Vì những lời nói này khiến người nghi ngờ bực tức đau khổ mang tai họa, nên hiện tại hoặc vị lai mình cũng phải nhận lấy hậu quả đau khổ ấy.

– Ý làm ác: Si mê, tham lam, nóng giận là nghiệp ác của ý. Chính nó là động cơ thúc đẩy thân làm ác, miệng nói ác. Bản thân nó thì chưa làm hại được ai, song do nó khiến thân sát phạt người, miệng chửi bới nguyền rủa người. Thân miệng mà không cộng với tham sân si thì tự nó không có lỗi lầm gì. Thế nên, tuy nói ba cơ quan tạo nghiệp, mà ý là cơ quan hệ trọng hơn cả, nó là chủ động của hai cơ quan kia.

 Nghiệp thiện là những hành động đem lại sự an ổn vui vẻ cho người và mình. Sự an ổn vui vẻ chẳng những có trong hiện tại mà còn đến vị lai. Cũng do ba cơ quan tạo thành nghiệp thiện: thân, miệng, ý.

– Thân làm lành: Thân không giết hại người, không trộm cướp tài sản người, không dâm dật phi pháp là nghiệp thiện của thân. Tại sao không làm ba việc ấy là thiện? Bởi vì con người quí nhất là sanh mạng, chúng ta không hại sanh mạng họ thì họ đến với chúng ta một cách an ổn không sợ sệt. Thứ yếu là tài sản, con người tự thấy tài sản là huyết mạch của họ, chúng ta nhất quyết không trộm cướp thì, họ đến với chúng ta cũng như chúng ta đến với họ, đều được an vui không hồi hộp lo âu về mất của. Hạnh phúc của gia đình là vợ chồng hòa thuận tin yêu trinh bạch với nhau, nếu vợ hay chồng có tình ý riêng tư với ai là gia đình mất hạnh phúc. Chúng ta giữ gìn không theo sự dâm dật phi pháp, đến với gia đình ai họ đều an ổn vui vẻ không nghi ngờ sợ sệt chi cả. Gìn giữ ba điều này, chúng ta đã ban sự an ổn vui tươi cho bao nhiêu người rồi, cũng chính là đem lại sự an ổn vui tươi cho gia đình chúng ta.

– Miệng làm lành: Miệng không nói dối trá, không nói ác độc, không nói ly gián, không nói thêu dệt là miệng làm nghiệp lành. Vì sao? Bởi vì, nói dối trá khiến người nghi ngờ mất niềm tin, đã không tin nhau làm gì có thương mến. Thế nên nói dối là căn bản khiến con người mất hết tình thương. Nói ác độc khiến người nghe sanh phẫn nộ bực dọc đau khổ. Nói ly gián làm cho thân thuộc họ phải chia lìa, tạo thành cái khổ ái biệt ly. Nói thêu dệt là tô điểm không đúng chân lý, khiến người không tìm ra được lẽ thật. Chúng ta quyết định gìn giữ miệng không nói bốn điều trên là tạo được tình thân giữa mình và người, đem lại cho mọi người sự an ổn, bảo vệ được tình thân của người, giúp cho người dễ nhận ra lẽ thật. Thế là, chúng ta đã tạo điều kiện tốt đẹp cho xã hội biết mấy.

– Ý làm lành: Ý không có tham sân si là ý làm nghiệp lành. Chúng ta thường thấy mọi sự bất bình đổ vỡ đều phát nguồn từ tham sân si. Nếu chúng ta không để cho tham sân si dẫn dắt hoành hành thì cả cuộc đời chúng ta được an ổn, cũng là nguồn an ổn cho mọi người. Ba thứ này gọi là tam độc, vì nó gây đau khổ cho mình và người không thể lường trước được. Người nào kềm cương giữ thắng được nó, bảo đảm được một đời sống an lành, cũng bảo vệ được an ninh trật tự cho mọi người. Ngược lại, kẻ nào buông cương thả thắng nó sẽ lôi đời họ vào hố sâu nguy hiểm, cũng gây họa hại cho khách bàng quan không ít. Thế nên, không cho tham sân si nổi dậy là gìn giữ sự an ổn vẹn toàn cho mình và mọi người.

Trong ba nghiệp, khẩu nghiệp là dễ tạo hơn cả. Người xưa đã bảo “đa ngôn đa quá” nghĩa là “nhiều lời tất nhiều lỗi”. Vì thế khi thốt ra lời gì phải dè dặt suy nghĩ kỹ. Nếu trong ba nghiệp, khẩu nghiệp đã dễ tạo, thì ý nghiệp lại có năng dụng mạnh hơn cả. Nhân được tạo ra ngay từ những suy nghĩ rồi, nên hãy cẩn thận.

Nghiệp thiện là  những hành động đem lại sự an ổn vui vẻ cho người và mình là nghiệp thiện. Sự an ổn vui vẻ chẳng những có trong hiện tại mà còn đến vị lai. Cũng do ba cơ quan tạo thành nghiệp thiện: thân, miệng, ý.

– Thân làm lành: Thân không giết hại người, không trộm cướp tài sản người, không dâm dật phi pháp là nghiệp thiện của thân. Tại sao không làm ba việc ấy là thiện? Bởi vì con người quí nhất là sanh mạng, chúng ta không hại sanh mạng họ thì họ đến với chúng ta một cách an ổn không sợ sệt. Thứ yếu là tài sản, con người tự thấy tài sản là huyết mạch của họ, chúng ta nhất quyết không trộm cướp thì, họ đến với chúng ta cũng như chúng ta đến với họ, đều được an vui không hồi hộp lo âu về mất của. Hạnh phúc của gia đình là vợ chồng hòa thuận tin yêu trinh bạch với nhau, nếu vợ hay chồng có tình ý riêng tư với ai là gia đình mất hạnh phúc. Chúng ta giữ gìn không theo sự dâm dật phi pháp, đến với gia đình ai họ đều an ổn vui vẻ không nghi ngờ sợ sệt chi cả. Gìn giữ ba điều này, chúng ta đã ban sự an ổn vui tươi cho bao nhiêu người rồi, cũng chính là đem lại sự an ổn vui tươi cho gia đình chúng ta.

– Miệng làm lành: Miệng không nói dối trá, không nói ác độc, không nói ly gián, không nói thêu dệt là miệng làm nghiệp lành. Vì sao? Bởi vì, nói dối trá khiến người nghi ngờ mất niềm tin, đã không tin nhau làm gì có thương mến. Thế nên nói dối là căn bản khiến con người mất hết tình thương. Nói ác độc khiến người nghe sanh phẫn nộ bực dọc đau khổ. Nói ly gián làm cho thân thuộc họ phải chia lìa, tạo thành cái khổ ái biệt ly. Nói thêu dệt là tô điểm không đúng chân lý, khiến người không tìm ra được lẽ thật. Chúng ta quyết định gìn giữ miệng không nói bốn điều trên là tạo được tình thân giữa mình và người, đem lại cho mọi người sự an ổn, bảo vệ được tình thân của người, giúp cho người dễ nhận ra lẽ thật. Thế là, chúng ta đã tạo điều kiện tốt đẹp cho xã hội biết mấy.

– Ý làm lành: Ý không có tham sân si là ý làm nghiệp lành. Chúng ta thường thấy mọi sự bất bình đổ vỡ đều phát nguồn từ tham sân si. Nếu chúng ta không để cho tham sân si dẫn dắt hoành hành thì cả cuộc đời chúng ta được an ổn, cũng là nguồn an ổn cho mọi người. Ba thứ này gọi là tam độc, vì nó gây đau khổ cho mình và người không thể lường trước được. Người nào kềm cương giữ thắng được nó, bảo đảm được một đời sống an lành, cũng bảo vệ được an ninh trật tự cho mọi người. Ngược lại, kẻ nào buông cương thả thắng nó sẽ lôi đời họ vào hố sâu nguy hiểm, cũng gây họa hại cho khách bàng quan không ít. Thế nên, không cho tham sân si nổi dậy là gìn giữ sự an ổn vẹn toàn cho mình và mọi người.

Nghiệp tuy không có hình tướng nhưng khả năng chi phối rất lớn, nó quyết định đời sống mai sau của ta. Nó có quan hệ khăng khít với luật nhân quả, gieo nhân nào gặt quả nấy, tạo nghiệp ác thì ắt chịu quả dữ dù có thể chưa thấy ngay trong kiếp này, tạo quả lành sẽ hưởng quả lành là điều tất yếu.

Nghiệp có thể dẫn dắt con người ta trôi lăn trong lục đạo luân hồi cả quá khứ, hiện tại và có thể cả vị lai nhưng cần phải hiểu rằng, con người có thể điều khiển nó vì con người là chủ nhân tạo nghiệp. Chúng ta khôn ngoan khéo léo lo tạo nghiệp lành. Chúng ta dại khờ ngu muội gây tạo nghiệp ác. Khổ vui sẽ tùy nghiệp mang đến với chúng ta một cách tất yếu.

Đạo Phật đã chỉ ra sáu con đường chúng sinh đã, đang và có thể sẽ mãi trôi lăn trong những cảnh giới đó mà không thể thoát ra được. Tuy nhiên, đạo Phật cũng chỉ ra con đường để chúng sinh có thể thoát ly luân hồi.

Ta đã biết tới sức mạnh của trọng lực (lực hút của trái đất) có thể khiến cho mọi vật vọt lên rồi lại rơi xuống, không thể thoát ra được nhưng ta cũng biết rằng lực hút ấy cũng chỉ có tác dụng trong một giới hạn không gian nhất định. Và hơn nữa con người cũng có thể tạo ra phi thuyền vượt ra ngoài sức hút ấy. Cũng giống như biết khổ chúng ta tìm cách thoát khổ mà Phật giáo đã chỉ ra cho chúng ta con đường để thoát khỏi luân hồi, không chấp nhận sự loanh quanh trong vòng sanh tử. Còn trong sinh tử dù dài ngắn khổ vui, đạo Phật đều kết luận là đau khổ, vì cùng một số phận vô thường. Chỉ thoát được luân hồi mới là an vui giải thoát.

Vậy, làm thế nào để thoát ly luân hồi?

Ta đã biết động cơ thúc đẩy luân hồi chính là nghiệp, điều đó cũng có nghĩa để thoát khỏi luân hồi thì phải chấm dứt việc tạo nghiệp. Tức là không tạo nghiệp lành cũng như nghiệp ác tu thành chính quả đạt tới cõi niết bàn. Chừng nào còn tạo nghiệp nhân thì vẫn còn luân hồi.

Ta thấy các nhà tu hành thường ngồi thiền, mục đích là để tất cả những suy nghĩ lăng xăng, lộn xộn bắt nó lặn xuống hết. Chưa lặng thì ráng ngồi lâu cho nó lặng. Chừng nào nó lặng rồi thì nhân tạo nghiệp không còn, mà nhân tạo nghiệp không còn thì quả luân hồi sinh tử đâu có. Đó là giải thoát sinh tử.

Có bốn con đuờng thoát khổ (tứ quả), đó là:

+ Phật : Tâm ngộ thật tướng, duyên khởi tánh không, tự giác, giác tha, từ bi, hỷ xả.

+ Bồ Tát : Phát tâm bồ-đề, trên cầu thành phật, dưới độ chúng sanh, trải mình hành đạo.

+ Duyên giác : Mười hai duyên khởi, không thầy tự ngộ, thanh tịnh tâm-nguyện, gương mẫu giữa đời.

+ Thanh Văn : Biết đời đau khổ, tâm cầu diệu-pháp, theo phật học pháp, ruộng phước thế gian.

 

6. Giá trị thuyết luân hồi

Giáo lý luân hồi đem lại cho chúng ta nhiều điều lợi ích:

            -Nó phá “đoạn kiến” sai lầm, đã làm cho con người đâm ra chán nản, vì nghĩ rằng dù mình có cố gắng ăn ở cho có đạo đức, làm các điều hay, đẹp rồi cuối cùng cũng chẳng đem theo được thứ gì, chẳng được hưởng gì cả một khi thân thể đã tiêu tan. Như thế càng làm cho con người lún sâu vào tội lỗi.

-Nó phá “thường kiến” sai lầm, làm cho con người tin rằng, loài người chết rồi vẫn giữ địa vị của mình, dù có làm phúc hay tội cũng vậy. Do đó người ta cũng không cần cố gắng trong lúc sanh tiền.

-Với giáo lý luân hồi, chúng ta phấn khởi mà tin rằng: chết rồi không phải mất hẳn, nhưng nếu chúng ta không biết vun trồng cội phúc, không cố gắng sống một đời sống có đạo đức mà trái lại làm những điều xấu xa, tội lỗi thì đời sau chúng ta sẽ sanh vào cảnh giới xấu xa, đen tối.

“Bể ái chưa vơi dòng nước mắt

 Đường sanh tử gieo rắc tang thương

 Luân hồi ba cõi vấn vương

Nguyên nhân nghiệp hoặc là đường khổ đau”

III. Kết luận

 Đạo phật nói thuyết luân hồi là phát minh ra một sự thật của vạn vật và con người. Từ việc hiểu rõ lý luân hồi mà con người tăng thêm lòng tự tin, không còn mê tín, ỷ lại. Hiểu được đời sống hiện tại của mình, hiểu bao nỗi buồn vui, hạnh phúc, sung sướng lẫn khổ đau trong đời sống đó từ đâu mà có. Và cũng chính vì hiểu bản thân là người quyết định đời sống hiện tại, vị lai mà từ đó lựa chọn cho mình một con đường, một đời sống phù hợp. Nếu không có khả năng thoát khỏi luân hồi thì cố gắng lựa chọn cuộc luân hồi an vui, thoải mái và tránh đoạ vào con  đường dữ trong lục đạo luân hồi. Nếu có khả năng thoát ly luân hồi, do hiểu luân hồi thì tiến tu đạo để giải thoát.

Tóm lại, hiểu thấu thuyết luân hồi trên tinh thần luật nhân quả mà mỗi người tự thấy những việc mình nên và không nên làm. Tương lai nằm trong tay chúng ta nhưng điều quan trọng không phải lựa chọn lấy một tương lai mà là lựa chọn một tương lai như thế nào. Đó là tuỳ ở chúng ta.

Nam mô a di đà Phật!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s