Đề tài: Tìm hiểu công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên- huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Nước, không khí và thực phẩm,… là những thứ rất cần thiết cho tồn tại, phát triển của người và các sinh vật trên trái đất. Nước là dung môi tốt để hòa tan tất cả các chất ( trừ mỡ và một ít hợp chất cacbon). Hầu hết các phản ứng hóa học xảy ra trong cơ thể có liên quan đến sự trao đổi chất đều cần đến nước. Các quá trình biến hóa thức ăn, tổng hợp chất cho tế bào… đều thực hiện trong môi trườn nước, đối với cơ thể sống, thiếu nước là một hiểm họa. Nhu cầu sinh lý của con người một ngày cần đến 1.83 lít nước, nhưng cũng có thể lên tới 2,5- 3,5 lít/ người, tùy theo cường độ lao động và tính chất môi trường xung quanh. Cung cấp nước đầy đủ và nước sạch là một trong những công tác chủ yếu để tăng cường và bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Ở nông thôn nước ta, theo báo cáo chiến lược quốc gia về nước và vệ sinh nông thôn thì vào cuối năm 2001, cả nước đã có 46% dân số nông thôn được cung cấp nước sạch. Cùng với việc cung cấp nước sạch là vấn đề vệ sinh môi trường. Các chất thải của người và gia súc, các phế thải của ngành tiểu thủ công nghiệp, dư lượng hóa chất trong nông nghiệp đang hàng ngày gây ô nhiễm môi trường.

Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn có ý nghĩa quan trọng trong đời sống hàng ngày của mọi người. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đang đứng trước nguy cơ Tổ chức Y tế Thế giới, có 80% bệnh tật ở các quốc gia đang phát triển có liên quan đến nước và môi trường bị nhiễm bẩn. Nhận thức được tầm quan trọng, vai trò to lớn của nước đối với đời sốn con người cũng như tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng, tác động tới nước, những năm gần đây Nhà nước ta đã  xây dựng và tổ chức thực hiện nhiều chương trình, chiến lược về bảo vệ, phát triển tài nguyên nước như: “Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn” (Quyết định số 237/1998/QĐ-TTg ngày 3/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình này),  “Chiến lược bảo vệ  môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” (Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược này). Theo chương trình này, Nhà nước đặt ra mục tiêu tăng nhanh tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch và số hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, thực hiện mục tiêu cải thiện điều kiện sống và sức khỏe của người dân nông thôn nhằm góp phần thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo và từng bước hiện đại hóa nông thôn.

Mỹ Yên là một xã miền núi thuộc huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên, nằm trong diện 135 của Chính phủ- vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Việc thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường còn gặp nhiều trở ngại, ý thức tự giác bảo vệ môi trường chưa trở thành thói quen trong cộng đồng dân cư, công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường còn tồn tại nhiều hạn chế…Tất cả đang trở thành những yêu cầu cấp thiết đòi hỏi phải được giải quyết. Để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng vấn đề cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề “Tìm hiểu công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên- huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu trong chuyến thực tế vừa rồi.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

     Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, chỉ ra những nguyên nhân còn tồn tại của công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên – Đại Từ – Thái Nguyên đề xuất một số biện pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường của xã.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
      – Làm rõ một số khái niệm có liên quan đến đề tài.

– Khảo sát thực tế và đánh giá thực trạng công tác cung cấp nước sạch và vế sinh môi trường tại xã

      – Chỉ ra nguyên nhân của thực trạng trên

– Đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu
       Công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên – Đại Từ – Thái Nguyên

 3.2. Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi không gian và địa điểm nghiên cứu: Tại xã Mỹ Yên – Đại Từ – Thái Nguyên

      – Phạm vi thời gian thực hiện nghiên cứu: Từ ngày 15/ 08/ 2011 đến ngày 21/08/2011.

– Phạm vi thời gian nghiên cứu số liệu: từ 2004 – 2010

4. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã áp dụng những phương pháp cụ thể sau:

a.Phương pháp quan sát:

          Dùng các giác quan ( mắt, tai …) thu thập thông tin trực tiếp. Thu kết quả từ việc ghi chép, hoặc những phương tiện công nghệ cao như: máy ghi âm, quay phim…Nhằm quan sát thực tế tình hình môi trường và vấn đề cung cấp nước sạch tại xã.

b. Phương pháp thu thập phân tích tài liệu:

 + Tài liệu viết: Dựa vào những văn bản về công tác quản lý đất cung cấp nguồn nước và những văn bản liên quan tới bảo vệ môi trường để thu thập thông tin

            + Tài liệu thống kê: Dựa vào những số liệu, bảng thống kê về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã.

c. Phương pháp phỏng vấn sâu:

                 Đối tượng phỏng vấn : cán bộ xã và người dân

 + Đối với cán bộ xã: phỏng vấn 03 đồng chí, cụ thể là:

    – Đồng chí Nguyễn Quang Khê (Phó chủ tịch UBND xã Mỹ Yên).

     – Đồng chí Đào Ngọc Lan ( Chủ nhiệm HTX cung cấp nước sạch và VSMT xã).

    – Đồng chí Nguyễn Thị Huyền ( Kế toán HTX cung cấp nước sạch và VSMT xã).

 + Đối với người dân:

            – Thôn Đầm Gành: phỏng vấn 35 hộ gia đình

            – Thôn Đồng Cháy: phỏng vấn 40 hộ gia đình

            – Thôn Đầm Phán: phỏng vấn 35 hộ gia đình

d. Phương pháp dùng bảng hỏi:               

            – Số phiếu phát đi: 110 phiếu

            – Đối tượng: người dân 3 thôn Đầm Gành, Đồng Cháy, Đầm Pháng

            – Số phiếu thu lại: 110 phiếu.

=> Mục đích nhằm thăm dò ý kiến, thái độ và nhận thức của người dân về công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường ở địa phương.

5. Ý nghĩa của đề tài

a. Ý nghĩa về mặt lí luận

– Hoàn thành đề tài đề tài chúng tôi cho đóng góp lý về mặt lí luận: làm phong phú thêm cơ sở lý thuyết.

b. Ý nghĩa về mặt thực tiễn

– Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu đề tài có thể đưa ra những nhận định đánh giá, đóng góp những ý kiến giúp chính quyền xã thực hiện tốt hơn công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại địa phương.

Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm về vấn đề cung cấp nước sạch và VSMT.

6. Kết cấu của đề tài.

Lời cảm ơn.

Phụ lục.

Phần 1: Mở đầu.

Phần 2: Nội dung.

Chương I: Cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận của đề tài.

Chương II: Thực trạng cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên- Huyện Đại Từ- Tỉnh Thía Nguyên.

Phần 3: Kết luận.

Tài liệu tham khảo.

 

PHẦN 2: NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

2.1.Cơ sở lý luận của đề tài.

2.1.1. Một số khái niệm liên quan.

2.1.1.1. Khái niệm nước và phân loại nước

a. Khái niệm nước

 – Theo “Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững” của Lê Huy Bá (NXB Khoa học kỹ thuật) Nước là một hợp chất hóa học gồm hai nguyên tử hiđrô kếtt hợp với một nguyên tử oxy, có công thức hóa học là H2O.

 – Nước là chất lỏng không màu, không mùi và trong suốt khi nguyên chất, tồn tại ở dạng tự nhiên trong sông, hồ, ao, biển.( theo Từ điển tiếng Việt- NXB thanh niên)

b.Phân loại nước:

Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước. Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất.

      Nước ngầm ( hay còn gọi là nước dưới đất) là nước ngọt được chứa trong các lỗ rỗng của đất hoặc đá. Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngâm nước bên dưới mực nước ngầm.

2.1.1.2. Khái niệm nước sạch và tiêu chuẩn nước sạch

a. Khái niệm nước sạch

– Nước sạch là nước không có màu, mùi vị khác thường gây khó chịu cho người sử dụng, không có chất tan và không tan độc hại cho con người, không có các vi khuẩn gây bệnh và không gây tác động xấu cho sức khoẻ người sử dụng trước mắt cũng như lâu dài”.

b.Tiêu chuẩn nước sạch

Nước là một nhu cầu không thể thiếu của con người. Trung bình nước chiếm độ 75% trọng lượng của cả cơ thể. Nói về nước “sạch”, theo định nghĩa, nước sạch là nước chỉ chấp nhận sự hiện diện của các hợp chất hữu cơ, kim loại và các ions hòa tan với một vi lượng rất nhỏ tuỳ theo độc chất của các chất kể trên. Và định mức này đã được Liên Hợp Quốc cũng như các quốc gia trên thế giới chấp nhận tùy theo điều kiện phát triển của từng quốc gia. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn cho nước uống ở các nơi cũng gần giống nhau. Căn cứ theo Code of Federal Regulations thuộc EPA Hoa kỳ, các tiêu chuẩn cần có cho nước uống gồm:

Ions: nồng độ của Fluor trong nước không được quá 2mg/L; Chlor, 250 mg/L; Sulfate, 250 mg/L; Nitrate, 45 mg/L.. .

Kim loại: Aluminum, 0,2 mg/L; Antimony, 0,006 mg/L; Arsenic, 0,010 mg/L; Chromium, 0,050 mg/L; Thủy ngân, 0,002 mg/L; Nickel, 0,100 mg/L; Selenium, 0,050 mg/L; Đồng, 1,0 mg/L; Sắt, 0.3 mg/L; Manganese 0,050 mg/L; Bạc, 0,100 mg/L; Kẽm, 5.0 mg/L.

Về các yếu tố vật lý thì độ dẫn điện (specific conductance) không được vượt quá 900 microhmos. Lượng chất rắn hòa tan (TDS) cũng không được quá 550 mg/L.

Cũng cần phải kể thêm tiêu chuẩn vi sinh, tức tổng lượng Coliforms không quá 23 MPN/100mL (most probable number-MPN).

Nói chung, nước được gọi là sạch và hợp vệ sinh khi đạt được các tiêu chuẩn yêu cầu trên và có độ pH trong khoảng từ 6,5 đến 7,5 (pH trung hòa trong nước là 7,0).

Đối lập với nước sạch là nước bị ô nhiễm

Khái niệm ô nhiễm nước: là hiện tượng thay đổi về chất lượng nước do trong nước có chứa quá mức các thành phần, vật chất, các chất độc hại và các vi khuẩn, vi sinh vật gây bệnh đã làm giảm giá trị sử dụng của nước, ảnh hưởng xấu tới sự tồn tại và phát triển của các sinh vật cũng như tới sức khỏe của con người.

2.1.2. Khái niệm môi trường, phân loại môi trường và ô nhiễm môi trường

a. Khái niệm môi trường 

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.” (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam).

b.  Phân loại môi trường:

      * Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước…

      * Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định… ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác. 

c. Khái niệm Ô nhiễm môi trường :

      Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học… gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, các cơ thể sống khác. Dưới góc độ pháp lý, ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật. (Khoản 6 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005).

2.2. Sự cần thiết của công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường đối với cuộc sống con người.

2.2.1. Kết quả thực hiện chương trình giai đoạn 1998 – 2005.

Tính đến năm 2005 trên địa bàn cả nước đã có khoảng 62% số dân nông thôn được cấp nước sinh hoạt, khoảng 50% số hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, nhiều chuồng trại chăn nuôi được cải tạo và xây mới đảm bảo quản lý chất thải, khoảng 70% tổng số trường học, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, 85% tổng số trạm xá xã, 17% tổng số chợ ở khu vực nông thôn được cấp nước sinh hoạt và có công trình vệ sinh đủ tiêu chuẩn, 28 đồn biên phòng cùng với hơn 8 vạn dân vùng lân cận được cung cấp nước sinh hoạt. Kết quả này đã góp phần quan trọng vào việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, cải thiện cảnh quan và vệ sinh môi trường, cải thiện điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt và nâng  cao sức khỏe cho nhân dân.

Cùng với kết quả đó, trên phạm vi cả nước đã cơ bản hoàn thành quy hoạch tổng thể nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn theo từng vùng, từng tỉnh. Nhiều loại hình công nghệ trong cấp nước và vệ sinh môi trường đã được xác định và ứng dụng phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, đặc điểm dân cư, tập quán và truyền thống sử dụng nước sinh hoạt của từng địa phương.

Tính đến nay, bộ máy quản lý thực hiện công tác cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn từ Trung ương đến cấp cơ sở đã được hình thành. Nhiều văn bản chính sách, tài liệu hướng dẫn về quản lý, công nghệ kỹ thuật…đã được xây dựng và ban hành. Nhận thức của chính quyền các cấp và nhân dân về việc sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường được nâng cao một bước. Bên sạnh đó, chương trình đã hình thành được một số mô hình huuy động vốn đầu tư có hiệu quả, bao gồm các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng, vốn từ các thành phần kinh tế, vốn hỗ trợ của quốc tế và vốn đóng góp của nhân dân.

2.2.2. Những khó khăn và thách thức

Tuy đã đạt được những kết quả quan trọng trên đây nhưng thực tế việc cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn ở nước ta vẫn còn khá nhiều khó khăn và thách thức, đó là:

Chất lượng nước và chất lượng xây dựng các công trình cấp nước nhìn chung còn thấp, chưa đạt các yêu cầu đặt ra. Đến nay vẫn còn 38% dân số nông thôn chưa được tiếp cận với nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Trong số 62% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh thì chỉ có chưa đến 30% được tiếp cận với nguồn nước đạt têu chuẩn ngành của Bộ Y tế. Nhiều  vùng đang diễn ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước do sự xâm nhập mặn, do chất thải chăn nuôi, chất thải làng nghề, hóa chất sử dụng trong nông nghiệp… ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sinh hoạt, sức khỏe của nhân dân. Bên cạnh đó nhiều khu vực ở các vùng đồng bằng đã phát hiện hàm lượng Asen có trong nước ngầm khá cao so với tiêu chuẩn cho phép đang là một trong những thách thức lớn đói với công nghệ sử lý và nguồn lực đầu tư.

– Tính đồng đều trong việc cấp nước sạch ở các vùng, miền còn nhiều hạn chế. Trong khi 3 vùng sing thái đã có số dân cư nông thôn được cấp nước sinh hoạt trên 60%, thì 4/7 vùng còn lại chỉ có chưa đến 50% số dân được cấp nước sinh hoạt, nhiều vùng như: miền núi, vùng ven biển, vùng khó khăn về nguồn nước, người dân chỉ được sử dụng bình quân dưới 20 lít nước/người/ngày. Nhiều nơi tình trạng khan hiếm nước diễn ra từ 5 – 6 tháng trong năm như Nam Trung Bộ, Tây Nguyên…

 – Tính bền vững của những thành quả đạt được về cấp nước chưa cao. Số lượng và chất lượng nước cung cấp ở nhiều nơi hiện đang bị giảm sút, việc giám sát và kiểm tra chất lượng nước chưa đúng quy định đặc biệt là đối với các công trình cấp nước nhỏ lẻ. Quản lý bền vững công trình cấp nước tập trung sau xây dựng còn yếu, hầu hết do kinh phí chưa đủ đảm bảo duy trì, quản lý, khai thác, tu sửa dẫn đến công trình bị xuống cấp, thậm chí không tiếp tục hoạt động được. Một số công trình do tư nhân hoặc HTX nước sạch đầu tư và quản lý tuy có khá hơn nhưng cũng chỉ đảm bảo tái sản xuất đơn giản.

– Phương pháp công nghệ sử lý rác thải, chất thải tập trung, đặc biệt là vùng làng nghề đang là vấn đề bức xúc, chưa có giải pháp hữu hiệu. Chương trình Mục tiêu Quốc gia giai đoạn 1999 – 2005 mới chỉ tập trung việc giải quyết nước sinh hoạt cho người dân mà chưa quan tâm đầy đủ đến việc vệ sinh môi trường, xử lý nước thải, xử lý rác thải, chất thải chuồng trại chăn nuôi và xử lý chất thải làng nghề do đó đây đang là vấn đề cản trở sự phát triển của các làng nghề và phát triển chăn nuôi ở nông thôn.

      Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, tuy nhiên, vấn đề vệ sinh ở nông thôn vẫn chưa được chú trọng như đối với cấp nước. Tính đến nay cả nước vẫn còn 50% số hộ gia đình chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh như nhà tiêu cầu, nhà tiêu đào, nhà tiêu ao cá…hiện là nguy cơ cao gây nhiễn bẩn các nguồn nước mặt phục vụ cho sinh hoạt của cộng đồng. Trong khi đó nhận thức của các cấp chính quyền và người dân vẫn còn lệch lạc, coi trọng vấn đề cấp nước hơn vệ sinh, coi trọng việc xây dựng mới hơn là phát huy hiệu quả những công trình hiện có.

      Tổng số vốn đàu tư huy động của chương trình chưa đáp ứng được nhu cầu, cơ cấu phân bổ nguồn vốn đầu tư chưa hợp lý.  Mặc dù Chương trình vẫn được ưu tiên phân bổ vốn năm sau cao hơn năm trước nhưng tổng ngân sách Nhà nước cấp còn rất khiêm tốn so với nhu cầu đề ra (Chỉ bằng 22% tổng toàn bộ nguồn vốn huy động được). Ngân sách nhà nước chủ yếu tập trung hỗ trợ cho các vùng khó khăn, các hộ giia đình chính sách, các hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người và chủ yếu là cho xây dựng mới các công trình, ít đầu tư cho truyền thông và đào tạo nâng cao năng lực.

     Thị trường nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn chưa được hình thành rõ ràng, các chính sách khuyến khích đầu tư và cơ chế tín dụng hiện có chưa thu hút được sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội, đặc biệt là khu vưc tư nhân.

     Theo báo cáo thống kê các bệnh truyền nhiễm năm 2003 của cục Y tế dự phòng và phòng chống HIV/AIDS – Bộ Y tế, 10/26 bệnh truyền nhiễm gây dịch được giám sát có tỷ lệ mắc trên 100.000 dân cao nhất thao thứ tự là  cúm, tiêu chảy, sốt rét, sốt xuất huyết, lỵ trực khuẩn, quai bị, lỵ amib, HIV/AIDS, viêm gan virus, thủy đậu… Như vật, khoảng một nửa các bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc cao nhất là những bệnh có liên quan tới nước sạch và VSMT. Điều này cho thấy cần phải tập trung hơn nữa cho việc cải thiện các điều kiện cấp nước và vệ sinh như là một trong các giải pháp đồng bộ nhằm từng bước khống chế và giảm tỷ lệ mắc của các bện dịch này.

     Các công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường trong các trường học, trạm y tế và các cơ sở công cộng khác ở nông tôn mặc dù đã được quan tâm nhưng kết quả đạt được vẫn còn khá khiêm tốn so với nhu cầu thực tế. nhiều trường học còn thiếu các công trình cấp nước và vệ sinh hoặc có nhưng không đáp ứng được nhu cầu, thêm nữa nhiều cơ sở công cộng đang được xây dựng mới nhưng không có hạng mục xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh.

2.2.3. Sự cần thiết phải tiếp tục xây dựng Chương trình (giai đoạn 2006 – 2010)

     Việc tiếp tục thực hiện Chương trình giai đoạn 2006 – 2010 là rất cần thiết để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của Chiến lược Quốc gia NS&VSNT đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 104/QĐ-TTg ngày 25/8/2000, góp phần thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ (MDGs) và mục tiêu phát triển của Việt Nam (VDGs) đến 2010, đồng thời góp phần thực hiện thành công chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (CPRGS) của Việt Nam.

Bên cạnh đó, Chương trình mục tiêu Quốc gia NS&VSMTNT giai đoạn 1998 – 2005 đã thu được nhiều thành công đáng khích lệ, nhiều nội dung đang trên đà thực hiện thành công. Để phát huy hiệu quả của Chương trình và giải quyết mục tiêu chiến lược đến 2010 như cam kết của Chính phủ với nhân dân và quốc tế, việc triển khai Chương trình mục tiêu thêm một giai đoạn nữa là cần thiết và hợp lý, được sự đồng tình của nhiều bộ, ngành và các địa phương.

Như đã đề cập ở trên, mặc dù đã đạt được nhiều kết quả song hiện tại cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn vẫn còn rất nhiều vấn đề khó khăn, thách thức cần được tiếp tục giải quyết bởi không chỉ một Bộ, ngành. Hơn nữa, hiện nay nhiều tổ chức quốc tế đang có những cam kết hỗ trợ cho Chương trình này, nếu được Chính phủ cho phép sẽ có cơ hôi và điều kiện huy động thêm được nhiều nguồn vốn quốc tế từ hợp tác song phương và đa phương.

2.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đặt vị trí quan trọng của công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động phát triển kinh tế xã hội. Quan điểm này được thể hiện rõ trong Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25-6-1998: “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân”.

Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg, ngày 2-12-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 cũng nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và của mọi người dân”.

Những năm gần đây Nhà nước ta đã  xây dựng và tổ chức thực hiện nhiều chương trình, chiến lược về bảo vệ, phát triển tài nguyên nước như: “Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn” (Quyết định số 237/1998/QĐ-TTg ngày 3/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình này). Theo chương trình này, Nhà nước đặt ra mục tiêu đến năm 2000 nâng tỷ lệ người được sử dụng nước sạch ở Việt Nam lên 45%, năm 2005 khoảng 8o% dân số nông thôn đươc sử dụng nước sạch. Mục tiêu lâu dài tới năm 2020 là xóa bỏ tình trạng ngập úng thường xuyên trong mùa mưa ở đô thị, từng đô thị có hệ thống thoát nước thải với công nghệ sử lý phù hợp bảo đảm vệ sinh môi trường, mở rộng phạm vi phục vụ của các hệ thống thoát nước đô thị, khu công nghiệp, áp dụng tiêu chuẩn, quy phạm tiên tiến, đưa lĩnh vực thoát nước đô thị ở Việt Nam lên tầm các nước trong khu vực. Đặc biệt, “Chiến lược bảo vệ  môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” (Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược này), đã đặt ra mục tiêu đến năm 2010: 40% các khu đô thị, 70% khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống sử lý nước thải tập trung, 95% dân số đô thị và 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, đến năm 2020 đạt 100% dân số đô thị và 95% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch, 100% đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống sử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường. Đây thực sự là bước phát triển mạnh mẽ trong việc bảo vệ, phát triển tài nguyên nước của Nhà nước, thực hiện các chiến lược này trong thực tế đã cải thiện đáng kể chất lượng môi trường nước và trong tương lai sẽ bảo đảm bảo vệ, phát triển tài nguyên nước ở mức độ cao hơn nữa, đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng nước của cộng đồng.

Các quan điểm cơ bản:

– Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

– Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

– Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên.

– Kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

– Xây dựng vẳ dụng nguồn tài chính cho hoạt động bảo vệ, phát triển tài nguyên nước.

– Xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống tiêu chuẩn môi trường về tài nguyên nước.

– Cấp, thu hồi giấy phép tài nguyên nước. Xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực  kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.

2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài.

2.2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên xã Mỹ Yên – Huyện Đại Từ – Tỉnh Thái Nguyên

 

( Một góc xã Mỹ Yên- Huyện Đại Từ- Tỉnh Thái Nguyên)

  Mỹ Yên là một xã miền núi thuộc huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên, nằm cách trung tâm huyện 10 km. Địa hình chủ yếu là đồi núi, với tổng diện tích tự nhiên là 3400 ha, trong đó đất nông nghiệp trồng lúa là 280 ha, trồng chè là 130 ha, diện tích rừng sản suất là 400 ha, còn lại là rừng vườn của vườn quốc gia Tam Đảo.

 Về khí hậu: Mỹ Yên mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi phía Bắc,

chia làm 2 mùa rõ rệt.

– Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kéo dài tới tháng 11. Tập trung vào các tháng 6, 7, 8 chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm.

– Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

– Nhiệt độ trung bình năm là trên 200C.

– Độ ẩm không khí dao động từ 80- 85%.

Về thủy văn: do điều kiện địa hình đồi núi nên mạng lưới suối nguồn ít, hệ thống kênh mương được xây dựng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp.

2.2.2. Khái quát về điều kiện kinh tế- Văn hóa- Xã hội xã Mỹ Yên- Đại Từ- Thái Nguyên

a. Sản xuất nông- lâm nghiệp.

* Trồng lúa:

– Diện tích gieo cấy là 270 ha, năng suất đạt 56 tạ/ ha, với sản lượng là 1512 tấn.

– Trong đó, lúa lai cấy được 33 ha ( chiếm %)

* Cây ngô:

– Ngô đông năm 2010 có 35 ha, năng suất 41 tạ/ ha, đạt sản lượng 143.5 tấn

– Ngô xuân với diện tích là 5 ha, năng suất đạt 40 tạ/ ha, sản lượng 20 tấn

Tổng sản lượng lương thực cây có hạt 6 tháng đầu năm đạt 1675,5 tấn

Chăm sóc thâm canh 102 ha chè kinh doanh, năng suất đạt 65 tạ/ ha, với sản lượng là 461.1 tấn

* Trồng rừng:

Rừng sản xuất: Đã cấp giống và phân bón cho nhân dân trồng và chăm sóc 36.1 ha tại 5 xóm: Bắc Hà 1, Bắc Hà 2, Bắc Hà 3, Việt Yên và Đồng Cháy

Triển khai mô hình thâm canh keo Tai tượng với diện tích là 25 ha tại 6 xóm: Suối Chì, Lò Gạch, Đồng Cạn, Trại Cọ, Đầm Pháng, Đầm Gành.

Công tác bảo vệ rừng: đã tăng cường sự phối hợp giữa các ban ngành và cơ sở thực hiện tốt công tác phòng chống cháy rừng; kiểm tra, giám sát việc khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản trên địa bàn xã.

b. Về chăn nuôi.

Đầu năm đàn gia súc mắc bệnh trên diện rộng, kéo dài đến tháng 4 dẫn đến tỉ lệ đàn gia súc, gia cầm giảm so với kế hoạch. Số gia súc, gia cầm hiện có như sau:

– Đàn bò: 34 con

– Đàn trâu: 587 con

– Đàn lợn: 2013 con

– Đàn dê: 162 con

– Đàn gia cầm: 25.553 con

Tổ chức tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm

Đã cấp và phun 242 lít thuốc sát trùng

Chuyển giao khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp: tập huấn hội thảo được 25 lớp, với 1255 lượt tham gia

Cấp tiền hỗ trợ cho nông dân có gia súc mắc bệnh lở mồm long móng phải tiêu hủy cả hai đợt là 599.825.000 đồng.

c.  Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.

-Sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp: Xã không có doanh nghiệp đóng trên địa bàn; tiểu thủ công nghiệp địa phương vãn duy trì nhịp độ phát triển, tuy nhiên vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, chưa sản xuất tập chung, sản phẩm không mang tính cạnh tranh. Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp 6 tháng đầu năm 2011 ước đạt 589.400.000 đồng.

– Hoạt động dịch vụ: các hộ kinh doanh trên địa bàn ổn định và phát triển tốt.

d. Văn hóa- xã hội.

Sự nghiệp giáo dục- đào tạo thu được nhiều thành tích quan trọng, hàng năm duy trì 14/ 13 cấp học. Chất lượng dạy và học cùng với đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng cao.

Về y tế: chỉ đạo trạm y tế xã tăng cường công tác khám chữa bệnh cho nhân dân. Trong 6 tháng đầu năm khám bệnh cho 2.855 bệnh nhân. Thành lập đoàn kiểm tra liên ngành tăng cường kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. Tổ chức tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm cho các hộ kinh doanh mặt hàng thực phẩm trên địa bàn toàn xã với tổng số 100 hộ tham gia.

 

(Đồng chí Nguyễn Quang Khê- Phó chủ tịch UBND xã báo cáo tình hình kinh tế- xã hội  6 tháng đầu năm 2011 trước đoàn thực tế)

Về phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được duy trì thường xuyên và đạt nhiều thành tích, đặc biệt là đã đạt giải nhất khối xã, thị trấn môn bóng truyền do huyện Đại Từ tổ chức.Chỉ đạo các xóm đăng ký xây dựng gia đình văn hóa = 1000 hộ, có 8/ 25 xóm đạt xóm văn hóa, 5/ 5 cơ quan văn hóa, 25/ 25 xóm đạt khu đan cư tiên tiến.

e. Công tác an ninh- quốc phòng.

–  Công tác an ninh.

Tình hình an ninh trật tự xã hội được đảm bảo tốt, không có vụ việc lớn xảy ra, giữ vững an ninh chính trị trên địa bàn.

Trong 6 tháng đã xử lý 5 vụ với 10 đối tượng, xử phạt vi phạm hành chính 1.250.000 đồng nộp vào ngân sách, phạt cảnh cáo 6 đối tượng.

Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát an toàn giao thông, đảm bảo an toàn giao thông nông thôn

Phối hợp với Ban chỉ huy Quân sự xã đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trước, trong và sau ngày bầu cử Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016.

Công tác quốc phòng.

Tuyển 7 thanh niên lên đường nhập ngũ và thực hiện tốt việc đưa tiễn tân binh lên đường nhập ngũ năm 2011.

Tổ chức huấn luyện dân quân tự vệ cho 53 chiến sĩ

Xây dựng kế hoạch phòng không nhân dân, kế hoạch xây dựng lực lượng dân quân tự vệ năm 2011.

Tích cực tham gia xây dựng lực lượng và bảo vệ an ninh nông thôn, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng chống bão lụt, giảm nhẹ thiên tai, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

2.2.3. Phương hướng, nhiệm vụ và  giải pháp để  phát triển kinh tế- xã hội.

a. Về phát triển kinh tế- xã hội.

Tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện sản xuất vụ mùa đạt kết quả cao với những mục tiêu cụ thể như sau:

– Chăm sóc thu hoạch lúa mùa sớm, mùa chung và lúa mùa muộn

– Tổng diện tích gieo cấy lúa vụ mùa là 278,8 ha

– Tổng diện tích cây màu vụ mùa là 20 ha

– Tổng diện tích cây màu vụ đông là 115 ha

– Trồng mới 13 ha chè cành, chăm sóc diện tích chè thâm canh và cải tạo 5 ha chè xuống cấp

– Phát triển và ổn định đàn gia xúc, gia cầm, làm tốt công tác tiêm phòng, phòng chống dịch bệnh cho đàn gia xúc, gia cầm.

– Tập chuung chỉ đạo thành công  2 mô hình chăn nuôi gà xương đen và lợn rừng theo chương trình nông thôn mới

– Chỉ đạo thực hiện tốt 4 mô hình dự án phát triển nông thôn mới

b. Công tác văn hóa xã hội- thể dục thể thao.

– Về giáo dục đào tạo:

+ Tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học, tăng cường đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo, củng cố vững chắc kết quả phổ cập tiểu học và trung học đúng độ tuổi.

+Đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt, học tốt và thực hiện nghiêm túc cuộc vận động hai không “ nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”.Không để tình trạng hoc sinh ngồi nhầm lớp, nêu cao đạo đức ý thức của người giáo viên, nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo.

+ chỉ đạo các trường chuẩn bị tốt công tác tuyển sinh, chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất  cho các trường bước vào năm học mới, chuẩn bị mọi điều kiện để năm học 2011- 2012 trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia.

– Về y tế- Vệ sinh môi trường:

+ Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Tăng cường công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao ý thức của người thầy thuốc, thực hiện nghiêm túc chế độ quản lý, điều hành, phục vụ của trạm y tế đáp ứng với nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng cao.

+ Xây dựng kế hoạch xử lý rác thải trên địa bàn toàn xã.

– Về văn hóa xã hội- thể dục thể thao:

+ Tiếp tục vận động nhân dân thực hiện tốt cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, thực hiện nghiêm túc quy định 140 của UBND huyện trong việc tiết kiệm trong cưới xin, tang ma, lễ hội.

+ Đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, thông tin về cơ sở, vùng có nhiều đồng bào dân tộc. Sử dụng có hiệu quả các nhà văn hóa, cụm loa truyền thanh ở cơ sở, phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng.

+ Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc xã bình xét xóm, cơ quan, gia đình văn hóa năm 2011. Làm tốt công tác khen thưởng cho các tổ chức và cá nhân. Phấn đấu 80% số hộ gia đình đạt gia đình văn hóa, 100% các cơ quan đạt cơ quan văn hóa, 70% khu dân cư đạt khu dân cư tiên tiến trong đó 8 xóm đạt xóm văn hóa.

+ Chỉ đạo làm tốt công tác chương trình hỗ trợ cho hộ nghèo và các hộ chính sách, hộ đồng bào dân tộc thiểu số khi có chủ trương của cấp trên.

+ Tăng cường công tác tuyên truyền xuất khẩu lao động, giải quyết việc làm cho con em địa phương để tăng thêm thu nhập.

+ Tiếp nhận các chương trình dự án, hỗ trợ vốn cho nhân dân nhằm tạo công ăn việc làm để nhân dân có điều kiện phát triển kinh tế, phấn đấu giảm 2% tỉ lệ hộ nghèo  năm 2011.

     – Về an ninh-  quốc phòng:

An ninh: Tiếp tục giữ vững an ninh trật tự an toàn xã hội, an ninh nông thôn. Tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc xảy ra, không để đơn thu khiếu nại vượt cấp, khiếu kiện đông người. Tăng cường công tác tuần tra canh gác, truy quét tội phạm và tệ nạn xã hội, kiềm chế và giảm tai nạn giao thông nông thôn. Chỉ đạo cho công an viên nắm chác tình hình cơ sở đảm bảo an ninh nông thôn, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là trong các ngày lễ, tết Nguyên đán. Xây dựng đội ngũ công an có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ năng lực để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Quốc phòng: Thực hiện tốt công tác quốc phòng, quân sự địa phương, đảm bảo đủ quân số tham gia huấn luyện dân quân, nâng cao chất lượng huấn luyện đảm bảo an toàn tuyệt đối người và vũ khí.

 

 

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CUNG CẤP NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG TẠI XÃ MỸ YÊN – ĐẠI TỪ – THÁI NGUYÊN

 

2.1. Công tác cung cấp nước sạch tại xã Mỹ Yên – Đại Từ – Thái Nguyên.

2.1.1. Tình hình về việc cung cấp nước sạch tại xã Mỹ Yên.

Là một xã miền núi thuộc diện 135 của Chính phủ về vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn nên công tác cung cấp nước sạch ở xã Mỹ Yên- Huyện Đại Từ- Tỉnh Thái Nguyên còn nhiều vấn đề cần quan tâm.

Trong chuyến đi thực tế vừa qua chúng tôi đã tìm hiểu được tình hình cung cấp nước sạch tại xã Mỹ Yên.

* Thực trạng cung cấp nước sạch ở xã Mỹ Yên- Đại Từ- Thái Nguyên.

   Công trình cấp nước sinh hoạt xã Mỹ Yên được UBND tỉnh Thái Nguyên đầu tư xây dựng với tổng kinh phí đầu tư là 3.7 tỉ đồng với quy mô công trình được xây dựng thuộc hệ thống nước tự chảy. Xã Mỹ Yên gồm có 2 công trình nước sạch được xây dựng vào năm 1997 và năm 2003, đó là công trình Cao Chùa và công trình La Tre.

   Công trình Cao Chùa được xây dựng năm 1997 với tổng kinh phí là 320 triệu đồng, do công tác quản lý lỏng lẻo, ý thức nhân dân chưa cao, nên công trình đã xuống cấp nghiêm trọng. Tháng 11/ 2004, trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường tỉnh Thái Nguyên đã đầu tư 63  triệu đồng để xây bể tạo áp 20 m3 và sửa chữa các vị trí đường ống bị mất cắp. Công trình Cao Chùa đã đi vào hoạt động phục vụ cho 4 xóm gồm: xóm Cao, xóm Chùa, Đồng Cháy, Đồng Khâm, với số hộ hưởng lợi từ công trình Cao Chùa là 120 hộ.

Công trình La Tre được khới công xây dựng năm 2003 với tổng kinh phí trên 3,7 tỷ đồng, nhằm đáp ứng thêm nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân.

Hai công trình cung cấp nước sạch nêu trên thì một công trình đạt công suất trên 150 m3/ngày đêm đó là công trình Cao Chùa. Công trình La Tre đạt trên công suất 800 m3/ ngày đêm. Theo lãnh đạo hợp tác xã cho biết  khả năng cung ứng nguồn nước như vậy là thừa so với nhu cầu của người dân.

Các công trình đều được xây dựng trên trên địa bàn đồi núi, đồi dốc, đường xá đi lại rất khó khăn, đường ống được trải dài trên địa bàn 21 xóm với tổng chiều dài đường ống trục chính là 32.6 km và 27 km đường ống về các cụm dân cư và các gia đình. Trên công trình lắp đặt một số thiết bị có giá trị như: khu bể xử lý, 6 cầu cáp treo, hơn 1.4 km đường ống kẽm được lắp đặt trên mặt đất và 27 van điều tiết nước.

 

                                    Công trình cung cấp nước sạch tại xã Mỹ Yên

Sau khi bàn giao công trình đưa vào sử dụng ngày 04/ 06/ 2003 UBND xã Mỹ Yên đã tiến hành đại hội và thành lập Hợp tác xã với tên khai sinh là HTX dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường xã Mỹ Yên. Nhiệm vụ của HTX là quản lý vận hành duy tu, sửa chữa công trình, mở mang lắp đạt cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân các dân tộc xã Mỹ Yên.

Cơ cấu bộ máy hợp tác xã quản lý nước sạch của xã Mỹ Yên gồm:

– Ông Đào Ngọc Lan – chủ nhiệm HTX

– Ông Nguyễn Đăng Khoa – phó chủ nhiệm HTX

+ Bộ phận giúp việc gồm:

– Bà Nguyễn Thị Huyền – kế toán

– Ông Nguyễn Văn Long – thủ quỹ

– 01 thủ kho

– 01 tổ bảo vệ khu vực đầu nguồn

– 01 tổ sửa chữa lắp đặt

+ Ban kiểm soát:

– 01 đồng chí ủy viên ban kiểm soát

Ngoài các chức danh chuyên môn trên các thành viên trong hợp tác xã được phân công kiêm nhiệm thực hiện quản lý khu vực xóm đội, khu vực mình được phân công, hàng tháng trực tiếp thu tiền sử dụng nước của các hộ hưởng lợi công trình về HTX.

 

           Hợp tác xã dịch vụ cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường

Tháng 10/2006, UBND xã Mỹ Yên đã chỉ đạo HTX phối hợp với Hội nông dân mở mạng nước sinh hoạt từ 2 hệ thống công trình cho các hộ xóm La Yến, Kỳ Linh trong, Kỳ Linh ngoài và một số hộ chưa có điều kiện. Hiện nay, toàn xã có 981 hộ đã sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh chiếm 76%. Nước tại công trình trên được đem đi xét nghiệm thường xuyên với định kì 3 tháng/ lần, và đã đạt tiêu chuẩn vệ sinh theo quy định của Bộ y tế. Độ tiêu chuẩn nước sạch tại xã đạt 97 %.

– Tính tới thời điểm này ngoài cung cấp nước sinh hoạt cho các hộ dân, công trình còn cung cấp thêm cho 3 nhà trường, trạm y tế và khu trung tâm ủy ban xã. Ngoài ra còn cung cấp thêm cho một đại lý vận chuyển ra thị trấn Đại Từ tiêu thụ với số lượng mỗi ngày 2 xe ôtô.

 

 

(Người dân được sử dụng nước sạch)

 Trước đây khi chưa có công trình cung cấp nước sạch, đa số người dân sử dụng nước giếng khơi và nước ở khe suối tự chảy không qua thiết bị lọc nước nên tỉ lệ người mắc bệnh ngoài da và phụ khoa cao. Người dân phải đi lấy nước xa rất bất tiện và không hợp vệ sinh. Kể từ khi các công trình cung cấp nước sạch đi vào hoạt động, người dân được sử dụng nước sạch. Vì thế tỉ lệ mắc bệnh đã giảm xuống rõ rệt, từ đó bà con có ý thức hơn trong việc bảo vệ công trình nước sạch.

* Công tác tuyên truyền và duy tu, sửa chữa, bảo vệ công trình.

– Công tác duy tu, sửa chữa công trình:

Công trình cung cấp nước sinh hoạt tại xã Mỹ Yên là một công trình lớn nhất tỉnh Thái Nguyên, thuộc hệ nước tự chảy với công xuất của cả hai công trình là trên 950m3/ ngày đêm nên việc duy tu, sửa chữa công trình được xác định là công việc thường xuyên của HTX.

 

 

                               Đường ống dẫn nước từ công trình về địa phương

 

HTX tiến hành thành lập tổ bảo vệ gồm 3 người trực tiếp quản lý, tu sửa, bảo vệ các thiết bị và nguồn nước nơi đầu nguồn.

Sau 3 năm quản lý HTX đã tiến hành:

– Thau rửa lọc bể 17 lần bằng 19 công.

– Sửa chữa đầu nguồn 26 lần bằng 78 công.

– Sửa chữa đường trục 237 mối bằng 447 công

– Bảo dưỡng cầu cáp treo, van điều tiết tổng số 2 lần bằng 52 công.

Để đảm bảo nguồn nước hợp vệ sinh vì công trình được sử dụng lâu dài và cung cấp đủ nước cho toàn xã, HTX đã tham mưu với UBND để bảo vệ công trình cần phải cấm các việc làm như: Chặt phá rừng, tắm giặt gây ô nhiễm nước đầu nguồn… và xử phạt nghiêm các hành vi vi phạm. Thường xuyên sửa chữa các đường ống bị hở, vỡ ngăn không cho nguồn nước bẩn nhiễm vào đường ống gây mất vệ sinh.

HTX cũng có 2 hợp đồng rõ ràng đó là:

+ Nếu đường ống dẫn bị hỏng hóc trên đường trục chính thì HTX sẽ cử người đi sửa, và tiền đó do HTX trả.

+ “Nếu ống dẫn từ mối hàn đường trục chính về nhà dân mà bị hỏng do chính hộ dân đó làm thì phải trả tiền sửa chữa, và HTX không chịu trách nhiệm”.( Lời của phó chủ tịch xã Nguyễn Quang Khê).

                                                                                                 

                    Phó chủ tịch xã Nguyễn QuangKhê trả lời phỏng vấn


 

– Công tác bảo vệ công trình:

Với trách nhiệm của tổ bảo vệ, ban quản lý công trình trong nhiệm kỳ vừa qua đã làm tốt công tác bảo vệ từ đập thu nước, bể xử lý và các tuyến đường ống trục về các cụm dân cư, nhìn chung các thiết bị trên công trình được đảm bảo nguyên vẹn. Tình trạng học sinh đến khu vực đầu nguồn tắm giặt được ngăn chặn.

Với trách nhiệm của mình trong 3 năm qua ban quản lý, tổ chức bảo vệ đã thực hiện tốt kế hoạch của HTX đề ra đã tiến hành kiểm tra và phục bắt quả tang một vụ tháo 34 đai, 68 ốp ống kẽm lớp 10 tại xóm La Tre, phục bắt quả tang một công dân xóm Làng Lớn đục đường ống trục chính để lấy nước vào ruộng cấy vụ chiêm năm 2004 và 04 đối tượng xóm Bắc Hà 3 tự ý tháo đồng hồ cho nước chảy xuống ruộng.

 

Đồng hồ đo mực nước sử dụng

HTX đã tiến hành tổ  chức đoàn kiểm tra các hộ hưởng lợi công trình trong 3 năm qua đã phát hiện 83 hộ tự ý sửa chũa đồng hồ bằng mọi hình thức: bẻ bánh răng cánh quạt, cắt cụt cánh quạt, đệm cao su vào cánh quạt, treo đá vào cánh quạt. Mục đích cho đồng hồ mất tác dụng. Tất cả các đối tượng trên đều bị lập biên bản và chuyển lên công an xã giải quyết.

 

– Công tác tuyên truyền:

Ban đầu công tác tuyên truyền còn gặp nhiều khó khăn, người dân chưa có ý thức bảo vệ công trình, vẫn còn có tư tưởng phá hoại công trình. Sau khi đi vào hoạt động một thời gian, bằng mọi biện pháp tuyên truyền, phối hợp với các ban ngành đoàn thể xã, xóm tổ chức họp dân để nêu lên tầm quan trọng của nước sạch và từ đó nhận thức của người dân có nhiều chuyển biến. Các hộ dân được hưởng lợi từ công trình cung cấp nước sạch phải có hợp đồng giữa bên cấp nước và bên sử dụng nước. Người dân phải có ý thức phối hợp với HTX trong việc bảo vệ nguồn nước .

2.1.2. Những thành tựu và hạn chế tồn tại của công tác cung cấp nước sạch tại xã Mỹ Yên.

* Thành tựu đạt được:

Kể từ khi đi vào hoạt động với tinh thần trách nhiệm và quyết tâm cao, chủ động khắc phục khó khăn, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương kiên trì tuyên truyền vận động nhân dân nâng cao nhận thức về vấn đề sử dụng nước sinh hoạt, qua đó nhận thức của nhân dân đã được nâng lên, tập quán lạc hậu dần được xóa bỏ, tạo thói quen sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh và trả tiền sử dụng nước sinh hoạt từ dịch vụ của đơn vị cung cấp đã đi vào đời sống của người dân. Vì vậy tạo được sự ổn định trong hoạt động dịch vụ, hình thành và từng bước phát triển thị trường nước sinh hoạt nông thôn trong xã, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

 * Kết quả cụ thể:

Kết quả trong công tác quản lý vận hành và dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt:

 Duy trì ổn định và từng bước phát triển thị trường nước sinh hoạt nông thôn trong tỉnh, chất lượng nước được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ đúng quy trình bảo đảm chất lượng đúng quy định theo Bộ Y tế, chất lượng dịch vụ được nâng cao đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng.

– Năm 2006: Là năm  thứ 3 thực hiện nhiệm vụ quản lý vận hành khai thác và dịch vụ cấp nước sinh hoạt nông thôn. HTX tham gia trực tiếp quản lý 2 công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn thuộc dự án đầu tư từ nguồn vốn mục tiêu quốc gia nước sạch VSMT nông thôn do UBND tỉnh đầu tư, đã cấp nước sinh hoạt cho 430 hộ dân trên địa bàn xã và các cơ quan đơn vị đóng trên bàn xã phục vụ nước sinh hoat cho khoảng 2000 người.

 +  Doanh thu dịch vụ nước sinh hoạt năm 2006 đạt 70 triệu đồng.

 + Mức thu nhập bình quân của cán bộ chỉ đạt 200 nghìn đồng/ người/ tháng. Chế độ và đời sống cán bộ công nhân viên còn gặp nhiều khó khăn.

– Năm 2007: HTX quản lý 2 công trình nước sinh hoạt cấp nước sinh hoạt cho 615 hộ dân nông thôn, chất lượng dịch vụ từng bước được nâng lên.

       +  Thu nhập bình quân của người lao động tăng 15% so với năm 2006.

       +  Thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước đầy đủ.

– Năm 2008: HTX duy trì vận hành từ 2 công trình, năm 2008 là năm xây dựng tuyến đường nhựa Đại Từ – Mỹ Yên toàn bộ 3km đường ống nước sinh hoạt phải nhường chỗ cho đơn vị thi công đường, HTX chủ động lập kế hoạch di chuyển và đã huy động 605 công nhân tham gia, đầu tư trên 60 triệu đồng để mua vật tư thay thế. Đảm bảo vận hành dịch vụ cấp nước sinh hoạt cho nhân dân, chất lượng dịch vụ được nâng lên, chất lượng nước được kiểm soát chặt chẽ đảm bảo tiêu chuẩn quy định.

          +  Doanh thu dịch vụ nước sinh hoạt đạt vượt  20% so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

         +   Tỷ lệ thất thoát bình quân từ 25% giảm xuống còn  20%.

         +   Thu nhập của người lao động tăng 15% so với năm 2007.

         +  Thực hiện nghĩa vụ đầy đủ với ngân sách nhà nước so với chỉ tiêu.

      – Năm 2009:

         +  Tiếp tục duy trì hoạt động quản lý vận hành và dịch vụ cấp nước sinh hoạt, quản lý an toàn về tài sản trang thiết bị tại các công trình dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 800 hộ dân.

         +   Doanh thu dịch vụ nước sinh hoạt đạt 180 triệu đồng vượt 32% so với chỉ tiêu kế hoạch để ra.

         +   Tỷ lệ thất thoát bình quân giảm xuống dưới 20%.

         +   Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.

– Kết quả năm 2010:

         +  Thị trường nước sinh hoạt trên địa bàn đã ổn định và phát triển theo hướng bền vững.

         +  Bảo đảm lượng nước sản xuất phục vụ nhân dân đạt đúng tiêu chuẩn nhà nước quy định cung cấp nước sinh hoạt cho 980 hộ 7000 người và các cơ quan đóng trên địa bàn xã.

         +  HTX phối hợp tốt với đơn vị thi công, sửa chữa công trình cấp nước La Tre đảm bảo độ thời gian quy định.

         +   Doanh thu dịch vụ nước sinh hoạt đạt trên 220 triệu đồng, tăng 18,1% so với năm 2009.

         +  Tỷ lệ thất thoát giảm còn 17%.

         +  Thu nhập bình quân của người lao động tăng 22% so với  năm 2009.

         +  Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.

    Chế độ, quyền lợi của cán bộ xã viên HTX cơ bản ổn định, tư tưởng của  cán bộ xã viên HTX ổn định yên tâm công tác nhiệt tình với công việc.

* Thành tích đã đạt được:

Năm 2004 được tặng giấy khen  ủy ban nhân dân cấp

Năm 2006 HTX dịch vụ cấp nước SH&VSMT xã Mỹ Yên UBND xã tặng giấy khen do thành tích 5 năm đạt được.

– Năm 2007 HTX dịch vụ cấp nước SH&VSMT được hội nước sạch Tỉnh Thái Nguyên tặng giấy khen

– Năm 2010 dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy- HĐND, sự điều hành trực tiếp của UBND xã, sự phối hợp giữa các ban ngành đoàn thể, sự giúp đỡ của liên minh hợp tác xã tỉnh, trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Thái Nguyên, sự ủng hộ nhiệt tình của các hộ hưởng lợi từ các công trình nước.

– Năm 2010 tập thể cán bộ, xã viên HTX đã làm tốt nhiệm vụ của mình như cung cấp kịp thời nước sinh hoạt cho 931 hộ, 3 nhà trường, khu trunh tâm UBND xã.

Phối hợp với đơn vị thi công xây dựng tuyến đường nhựa Khôi Kỳ- Mỹ Yên, tuyến đường vành đai Mỹ Yên- Khôi Kỳ đã di chuyển và sửa chữa gần 2 km đường ống đê nhường chỗ cho đơn vị thi công. Sửa chữa kịp thời các vị trí bục hở, tổ chức đoàn kiểm tra tới hô hưởng lợi công trình.

 HTX đã thực hiện tốt quy chế HTX đã đề ra như duy trì tốt chế độ giao ban tuần, tháng , quý giữa ban quản lý với xã viên HTX.

 Năm 2010 đã cử 5 xã viên HTX đi dự lớp tập huấn tại tỉnh do Liên minh HTX tỉnh Thái Nguyên tổ chức.

 

Giấy chứng nhận ông Dương Văn Phong đã hoàn thành khóa đào tạo của tỉnh

 Năm 2010 được Hội đồng thi đua khen thưởng Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường tỉnh Thái Nguyên bình chọn là đơn vị quản lý tốt công trình cấp nước giai đoạn 2006- 2010, đề nghị Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn tặng bằng khen.

* Những hạn chế còn tồn tại:

– Tuy nhiên, tình hình cung cấp nước sạch còn tồn tại một số bất cập do việc trả lương cho cán bộ quản lý và công nhân tu sửa công trình còn thấp hơn so với công sức và thời gian mà họ bỏ ra. Vì thế số lượng thành viên trong HTX có giảm hơn so với thời gian đầu.

– Việc áp dụng Nghị định 117 năm 2009 của Chính phủ về việc sử dụng nước sạch dưới 4 khối thì vẫn phải trả tiền 4 khối để chống việc thất thoát nước nên đã để lại nhiều bất cập trong nhân dân, họ không ủng hộ chính sách đó. Nhưng đến tháng 06/ 2011 HTX đã kiến nghị và hủy bỏ Nghị định trên, tiến hành áp dụng sử dụng bao nhiêu tính tiền bấy nhiêu.

– Vẫn còn một số hộ dân chưa nhận thức đúng đắn như vẫn cho nước chảy nhỏ giọt làm giảm áp lực của những hộ dân ở trên cao không có nước để sử dụng, vẫn còn tình trạng tự ý đấu nối nước trước đồng hồ, việc thu nộp tiền hàng tháng còn kéo dài không nộp.

– Bể lọc công trình La Tre xuống cấp, số lượng nước thất thoát khoảng 30% nên không đủ cung cấp nước sinh hoạt trong những giờ cao điểm.

– Sự điều hành của các ban quản lý chưa dứt khoát thiếu kiên quyết

– Ý thức tự giác trong việc bảo vệ công trình chưa cao, chăn thả gia xúc làm ô nhiễm nước đầu nguồn.

– Một số vị trí bục hở còn để kéo dài không sửa chữa.

 

– Một số xã viên hợp tác xã còn chưa thực sự nhiệt tình và làm tốt nhiệm vụ được giao, sơ suất trong việc thu tiền nước, không  phát phiếu thu cho một số hộ dân.

 

 

                                       ( Phiếu thu tiền sử dụng nước sinh hoạt)

 

– Ngoài ra, một số hộ ở xa nguồn nước thì không đủ nước sinh hoạt, thường xuyên bị mất nước và họ đã bỏ không sử dụng mà chuyển sang dùng các nguồn nước khác ( giếng khơi, giếng khoan…).

* Nguyên nhân:

        – Cán bộ xã chưa có phương án, kế hoạch cụ thể, chưa làm tốt nhiệm vụ được giao. Việc phối hợp giữa HTX với các ban ngành đoàn thể đến các xóm đội chưa có kế hoạch cụ thể chặt chẽ. Không thống nhất, nhận thức của một số ít cán bộ còn thiếu nghiêm túc, ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân. Tham gia các buổi họp giao ban không đây đủ, nghỉ không lý do, không báo cáo.

        – Công tác quản lý còn lỏng lẻo, chưa xử lý nghiêm những vi phạm phá hoại công trình và gây ô nhiễm nguồn nước. Một số đồng cí trong ban quản lý thiếu kiên quyết trong việc giải quyết những hộ vi phạm hoặc rây dưa tiền sử dụng nước hàng tháng.

        – Công tác tuyên truyền tới người dân chưa thực sự tốt, nhận thức về việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước của một số hộ hưởng lợi công trình chưa cao xảy ra tình trạng như: tự ý sửa chữa đồng hồ dưới nhiều hình thức khác nhau. Tình trạng nhân dân cho nước chảy nhỏ giọt có biểu hiện gia tăng mặc dù đã được ban quản lý nhắc nhở và xử lý.

 

* Biểu đồ thể hiện tình hình sử dụng nước sạch trên địa bàn xã từ 2004-2010:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

        Bảng số liệu và biểu đồ thể hiện tình hình sử dụng nước sạch tại 3 thôn Đầm Pháng, Đầm Gành và Đồng Cháy từ 2004-2010:

 

 

2.2. Vấn đề vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên.

2.2.1. Tình hình vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên.

     Trong nhiều năm qua, không chỉ vấn đề nước sạch mà vấn đề vệ sinh môi trường cũng rất được quan tâm. Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một trong những chương trình trọng điểm góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế- xã hội của cả nước, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, cải thiện môi trường sống và sức khỏe nhân dân nông thôn.

Vệ sinh môi trường nông thôn đã có nhiều tiến bộ, xong vẫn còn nhiều vấn đề  tiếp tục cấn phải giải quyết, đặc biệt là ở nông thôn miền núi. Các công trình vệ sinh sinh thái như giếng nước, hố tiêu, nhà tắm chưa có đủ, vệ sinh cá nhân chưa trở thành ý thức thường xuyên của mọi người. Nhiều yếu tố như thói quen, tập tục, điều kiện kinh tế chưa tốt đã dẫn đến tỉ lệ người nhiễm bệnh tăng lên. Mặt khác trên con đường công nghiệp hóa nông nghiệp, bà con nông dân sử dụng ngày một nhiều phân bón hóa học, các loại hóa chất trừ sâu để tăng trưởng cây trồng và tăng năng suất, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái.

Xã Mỹ Yên là một xã miền núi còn nhiều khó khăn, kinh tế phát triển còn hạn chế nên vấn đề vệ sinh môi trường còn nhiều bất cập cần giải quyết. Vì vậy, việc giáo dục và hướng dẫn vệ sinh môi trường cho bà con là vấn đề rất lớn, cần phải phổ biến sâu rộng để thành một phương thức sinh hoạt lành mạnh, khoa học.

– Thực trạng môi trường tại xã Mỹ Yên- Đại Từ- Thái Nguyên.

Hiện nay, tại xã Mỹ Yên chưa có khu xử lý rác thải tập trung theo đúng quy định và chưa có tổ vệ sinh môi trường chuyên thu gom rác thải cho người dân. Chính vì vậy, rác thải sinh hoạt được người dân tự xử lý là chủ yếu như: chôn, ủ, đốt rác, ngoài ra một số hộ gia đình vứt rác bừa bãi ra ngoài môi trườn sống xung quanh.

                      

                       Người dân vứt rác bừa bãi ra ngoài  môi trường

 Mặc dù một số hộ gia đình đã có ý thức tự xủ lý rác thải của gia đình mình, tuy nhiên lại chưa đúng quy trình kỹ thuật, không hợp vệ sinh. Người dân thường chôn rác ngay sau nhà, hố rác không đạt tiêu chuẩn, chiều sâu của hố còn nông. Đặc biệt là chưa phủ lên bề mặt một lớp đất dày khoảng 15- 20 cm. Họ chôn tất các loại rác lại với nhau, chưa có sự phân loại rác thải. Nên các chất thải vô cơ như túi nilông vẫn chưa phân hủy được lâu ngày gây ảnh hưởng tới đất và nước.

  Một số hộ lại ủ rác để làm phân bón sử dụng trong nông nghiệp, nhưng cũng không đạt yêu cầu. Họ thường ủ rác gần nguồn nước sinh hoạt, nơi ủ rác ngập úng, ẩm thấp dễ tạo môi trường phát triển cho các loại vi khuẩn gây bệnh.

 

                                    Làm thức ăn ngay gần bãi rác

Các loại rác thải dễ cháy thì được mang đốt ngay, tuy nhiên lại không có sự phân loại, mà họ gộp tất cả các loại rác với nhau như chai lọ, túi nilông, quần áo hỏng…. vào đốt chung và đốt gần khu nhà ở. Điều này làm sản sinh ra các chất khí độc hại ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và môi trường sống.

Ngoài các cách xử lý trên còn nhiều hộ gia đình chưa có ý thức đã vứt rác ra ngoài môi trường sống, gây ô nhiễm và mất cảnh quan khu dân cư.

Biệnpháp 

 

Xóm

 

Đổ rác bừa bãi

 

Đổ rác đúng nơi quy định

 

 

Đốt

        Ý kiến khác

 

 

Tổng

 

Chôn

 

Đồng cháy

6

0

30

5

5

46

Đầm Gành

0

0

35

0

0

35

Đầm Pháng

2

0

25

6

4

37

Tổng

8

0

90

11

9

 

 

Bảng thống kê về các biện pháp xử lý rác thải của các hộ gia đình

                                                                                                                                   

Về chất thải trong chăn nuôi: phân của các loài gia súc, gia cầm được ủ làm phân bón trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, quy trình ủ không phù hợp, gần nơi ở và nguồn nước gây mất vệ sinh và ảnh hưởng tới sức khỏe con người.

 

Khu ủ phân vật nuôi không hợp vệ sinh

Ngoài phân vật nuôi, còn có các loại nước thải từ chuồng trại được làm ống dẫn xả thải thẳng ra ngoài ao hồ, gây ô nhiễm nguồn nước và bốc mùi hôi thối rất mất vệ sinh, ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển của các loài sinh vật dưới nước.

 

Nước thải trong chăn nuôi xả trực tiếp ra môi trường.

Xác động vật bị bệnh chết, người dân không đem chô mà đem vứt ra mương máng, gần nơi sinh hoạt. Gây ảnh hưởng tới nguồn nước sinh hoạt, làm ô nhiễm môi trường không khí. Điều đó gây ra các loại dịch bệnh lan truyền, làm ảnh hưởng tới sức khỏe của chính người dân. Bên cạnh đó, người dân vẫn chưa thường xuyên vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, chuồng trại thường ở trong trạng thái ẩm thấp. Gây ảnh hưởng tới sự phát triển của vật nuôi và là môi trường thuận lợi cho các loại dịch bệnh phát sinh như: lở mồm long móng, tai xanh, H5N1…Một số hộ gia đình đã biết vận dụng phương pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi, đó là sử dụng công nghệ sinh học- bể khí biôga. Biện pháp này không những mang tính khoa học, hợp vệ sinh, mà còn tạo ra nguồn khí đốt lớn giúp bà con tiết kiệm chi phí trong đun nấu.

 

     Biện pháp        xử lý 

           Xóm

 

Làm phân bón

Xả ra môi trường

 

Đổ bừa bãi

 

Bioga

 

Tổng

Đồng Cháy

30 4 3 3 40

Đầm Gành

28 0 4 3 35

Đầm Pháng

23 6 5 1 35
Tổng 91 10 12 7 110

Bảng thống kê biện pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi.

 

Trong nông nghiệp, Mỹ Yên là một xã thuần nông, hoạt động sản xuất chính của người dân là trồng lúa nước và trồng chè. Vì vậy, họ thường xuyên phải sử dụng các hóa chất để bảo vệ cây trồng sinh trưởng, phát triên tốt cho năng suất cao; gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí. Sau khi phun thuốc xong người dân không có thói quen thu gom bao bì lại để xử lý cho hợp vệ sinh, mà thường vứt ngay trên bờ ruộng, làm mất cảnh quan môi trường.

 

                                     Rác thải trong nông nghiệp

Tại nơi công cộng:

Ở chợ: Mặc dù ở Mỹ Yên chợ được họp theo phiên 5 ngày/ phiên, nhưng sau các buổi họp chợ đó rác thải là rất lớn, không được thu gom xử lý ngay mà được vứt bừa bãi, gây mất cảnh quan, mùi hôi thối bốc lên, đối tượng phải gánh hậu quả đầu tiên là các hộ gia đình sống tại đây.

 

                            Khung cảnh chợ phiên tại xã Mỹ Yên

Tại trường học: Học sinh vẫn còn chưa có ý thức và không hiểu biết rõ vai trò quan trọng của việc vệ sinh môi trường. Cũng chính vì thế ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường của các em còn nhiều thiếu sót. Tình trạng các em học sinh cấp I đứng giữa sân trường ăn bánh, kẹo, và nhiều thứ quà vặt khác…Mặc dù trước mặt, sau lưng các em là những khẩu hiệu “Vì môi trường xanh sạch đẹp”, “ Giữ gìn vệ sinh trường học”…nhưng ăn xong các em vẫn vô tư vứt rác xuống sân trường. Còn đối với các em học sinh cấp II khi ý thức và trách nhiệm các em trong việc bảo vệ môi trường đã được hình thành. Những hành động: ăn quà vặt, vứt rác bừa bãi vẫn còn tiếp diễn ở các em học sinh lớp 6,7. Tình trạng “học đòi” hút thuốc không chỉ hại cho sức khỏe bản thân mà còn cho những người xung quanh, đặc biệt xuất hiện ở những học sinh lớp 9. Không chỉ thế, tình trạng vứt giấy bừa bãi ra các lớp học, sân trường sau mỗi buổi tan học. Khiến cho lớp học, sân trường chẳng khác gì nơi thu gom giấy vụn…

Về nhà vệ sinh: Hầu như các gia đình đều có nhà vệ sinh hai ngăn theo tiêu chuẩn hợp vệ sinh. Các gia đình đều được nhận hỗ trợ để xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, xây nhà vệ sinh cách xa nơi ở và nguồn nước một tiêu chuẩn nhất định. Tuy nhiên việc xử lý chất thải chưa hợp lý, chất thải được xả trực tiếp ra môi trường, rác thải vứt bừa bãi không được thu gom…làm ô nhiễm môi trường sống. Một số gia đình chưa có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn.

        

Nhà tiêu không hợp vệ sinh

 

Bảng thống kê mô hình nhà vệ sinh của 3 thôn Đồng Cháy, Đầm Gành, Đầm Phán:

 

              Nhà vệ sinh Xóm

 

Có tự hoại

 

Không có tự hoại

 Tổng
Đồng Cháy 4 18 18
Đầm Gành 0 7 28
Đầm Pháng 0 11 24
Tổng 4 36 70

  

  Thực  trạng môi trường tại xã Mỹ Yên theo ý kiến của người dân

Thực trạng môitrườngXóm

Ô nhiễm nặng

 

Ô nhiễm ít

Vẫn trong lành

 

Tổng

Đồng Cháy 4            18 18 40
Đầm Gành 0 7 28 35
Đầm Pháng 0 11 24 35
Tổng 4 36 70 110

 

2.2.2 Những thành  tựu và hạn chế của công tác vệ sinh môi trường.

a. Những tành tựu đạt được.

Xã đã hỗ trợ kinh phí để các hộ dân xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh, đảm bảo tránh gây ô nhiễm môi trường. Tùy vào điều kiện kinh tế của từng hộ gia đình mà xã có kinh phí hỗ trợ phù hợp, kinh phí hỗ trợ dao động trong khoảng từ 1.000.000 => 1.500.000 đồng. Nhờ một phần hỗ trợ của xã nhiều gia đình đã xây dựng được nhà tiêu đạt tiêu chuẩn. Xã đã tuyên truyền đến người dân về việc xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh.

          

                        Một số mô hình nhà tiêu hợp vệ sinh

b. Những hạn chế còn tồn tại.

Một là: về nhận thức ý thức VSMT của người dân. Việc khai thác tài nguyên, sử dụng công nghệ hóa chất, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chất thải, rác thải sinh hoạt, thói quen sinh hoạt thiếu vệ sinh (chưa có nhà tiêu hoặc chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh) làm suy thoái, ô nhiễm môi trường.

Hai là: Công tác đào tạo cán bộ chuyên làm công tác môi trường chưa được thường xuyên, liên tục. Nhiều gương người tốt, việc tốt, nhiều mô hình hay chưa được nhân rộng, kinh phí quá hạn hẹp, quy mô nhỏ.

Ba là: Việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở địa phương còn chưa nghiêm dẫn đến ô nhiễm môi trường, việc giải quyết các mâu thuẫn tranh chấp về đất đai và môi trường chưa chặt chẽ, kịp thời, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và phát triển sản xuất của địa phương.

Bốn là: Sự phối hợp giữa HTX cung cấp nước sạch và VSMT với các cơ quan chức năng của tỉnh chưa chặt chẽ

Năm là: Nguồn ngân sách của xã còn hạn hẹp vì vậy chưa xây dựng được khu xử lý rác thải tập trung.

Sáu là: Chưa thành lập được tổ vệ sinh môi trường

Bảy là: Do điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nên một số hộ dân vẫn chưa xây dựng được nhà tiêu hợp vệ sinh.

Tám là: Công tác tuyên truyền còn nhiều hạn chế ,chưa rộng dãi trong nhân dân. Dẫn đến nhận thức của người dân trong công tác vệ sinh môi trường chưa cao.

2.2.3.  Nguyên nhân

– Nhận thức hiểu biết của người dân còn hạn chế nên ý thức tự giác bảo vệ môi trường chưa cao.

– Xã chưa xây dựng được khu xử lý giác thải tập trung nên người dân còn đổ rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường.

– Công tác tuyên truyền còn nhiều hạn chế, chưa được thường xuyên và sâu rộng trong quần chúng.

 

 

2.3. Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã

2.3.1. Giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao công tác cung cấp nước sạch tại xã Mỹ Yên.

a. Giải pháp:

– Do nhận thức về việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước của người dân còn nhiều hạn chế nên cần phải tăng cường,đẩy mạnh hơn nữa công tác thông tin, giáo dục truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ công trình cấp nước sinh hoạt trên địa bàn xã, đó là 2 công trình Cao Chùa và công trình La Tre.

      – Phối hợp với các ban công tác mặt trận trong từng xóm vận động nhân dân đóng góp kinh phí, công sức nâng cấp đường ống vì công trình được xây dựng trên vùng đồi núi dốc dẫn đến việc duy tu, sửa chữa mất nhiều công sức và tốn kém.

     – Đề nghị trung tâm nước sinh hoạt tỉnh hỗ trợ kỹ thuật kiểm định toàn bộ đồng  hồ của các hộ dân và thay thế những đồng hồ không đủ tiêu chuẩn, chất lượng.

      –  Tranh thủ nguồn lực nhà nước để tu sửa bể lọc 2 công trình La Tre và Cao Chùa.

      – Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các kế hoạch, nghị quyết, duy trì nghiêm túc chế độ giao ban, họp của HTX đã đề ra. Chấp hành sự lãnh đạo của Đảng ủy, UBND phối hợp tốt với các ban ngành đoàn thể.

     – Chủ động khai thác công trình cấp nước. Đồng thời đẩy mạnh công tác kiểm soát chất lượng công trình và kiếm tra chất lượng nước.

     – Áp dụng giá thu tiền nước theo đúng quyết định của UBND Tỉnh Thái Nguyên.

     – Phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng chính sách XH, đẩy mạnh việc xây dựng tu bổ công trình cấp nước sạch từ nguồn vốn ưu đãi của Chính Phủ, lồng ghép với các công trình mục tiêu khác. Đồng thời huy động các nguồn vốn nhằm đem lại lợi ích và an sinh XH cho người dân.

     – Gắn việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở với việc lập kế hoạch triển khai, thực hiện, quản lý, duy tu, bảo dưỡng và giám  sát xây dựng công trình theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và được hưởng lợi”.

b. Khuyến nghị

+ Đối với ủy ban xã.

     –  Đảng ủy- HĐND, UBND xã quan tâm hơn nữa đến việc chỉ đạo HTX và có chủ trương biện pháp phối hợp với các ban ngành, đoàn thể và HTX trong việc tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt nội quy quản lý sử dụng nước.

     – Áp dụng giá thu tiền nước hợp lý vừa đúng quy định của UBND tỉnh, vừa phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của nhân dân.

     – Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo duc nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, thực hiện tốt quy chế quản lý, vận hành, bảo vệ và sử dụng nước sạch.

     – Kiểm tra, đánh giá, tuyên dương nhức những trường hợp có ý tốt trong việc sử dụng và bảo vệ nước sạch. Bên cạnh đó sử lý  nghiêm những hành vi vi phạm.

     –  Mở mang công trình đáp ứng nhu cầu của người dân

     – Ban quản trị HTX cần nghiên cứu, sửa đổi quy chế hoạt động sao cho phù hợp với công việc trong giai đoạn hiện nay.

     – Phân công công việc cho từng thành viên trong HTX sao cho phù hợp

     –  Ban quản trị HTX và các thành viên cần không ngừng nâng cao nhận thức về chuyên môn, tham gia các lớp tập huấn đầy đủ.

    – Ban quản trị cần duy trì tốt chế độ giao ban tuần, tháng, quý. Tổ chức hội nghị tổng kết hàng năm để đanh giá hoạt động của HTX.

     – Tranh thủ sự hỗ trợ của cấp trên về chuyên môn, nghiệp vụ và kinh phí.

     – Kiểm tra định kì nguồn nước để đảm bảo nguồn nước hợp vệ sinh.

+ Đối với nhân dân:

      – Tuyên truyền giáo dục đến học sinh phải có ý thức trách nhiệm bảo vệ  công trình đầu nguồn, nhất là khu vực xử lý và cầu cáp treo ống.

      –  Người dân cần nâng cao ý thức, trách nhiệm của mình để bảo vệ và sử dụng tiết kiệm nguồn nước sinh hoạt.

      – Chấp hành mọi quy định của UBND xã về việc nguồn nước sạch. Không đập phá làm hỏng công trình.

      – Người dân nên xây các bể chứa nước nhằm trữ nước sinh hoạt đảm bảo không bị thiếu nước sinh hoạt trong giờ cao điểm.

2.3. Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã

2.3.1. Giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao công tác cung cấp nước sạch tại xã Mỹ Yên.

a. Giải pháp:

       – Do nhận thức về việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước của người dân còn nhiều hạn chế nên cần phải tăng cường,đẩy mạnh hơn nữa công tác thông tin, giáo dục truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ công trình cấp nước sinh hoạt trên địa bàn xã, đó là 2 công trình Cao Chùa và công trình La Tre.

       – Phối hợp với các ban công tác mặt trận trong từng xóm vận động nhân dân đóng góp kinh phí, công sức nâng cấp đường ống vì công trình được xây dựng trên vùng đồi núi dốc dẫn đến việc duy tu, sửa chữa mất nhiều công sức và tốn kém.

      – Đề nghị trung tâm nước sinh hoạt tỉnh hỗ trợ kỹ thuật kiểm định toàn bộ đồng  hồ của các hộ dân và thay thế những đồng hồ không đủ tiêu chuẩn, chất lượng.

       –  Tranh thủ nguồn lực nhà nước để tu sửa bể lọc 2 công trình La Tre và Cao Chùa.

       – Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các kế hoạch, nghị quyết, duy trì nghiêm túc chế độ giao ban, họp của HTX đã đề ra. Chấp hành sự lãnh đạo của Đảng ủy, UBND phối hợp tốt với các ban ngành đoàn thể.

     – Chủ động khai thác công trình cấp nước. Đồng thời đẩy mạnh công tác kiểm soát chất lượng công trình và kiếm tra chất lượng nước.

     – Áp dụng giá thu tiền nước theo đúng quyết định của UBND Tỉnh Thái Nguyên.

     – Phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng chính sách XH, đẩy mạnh việc xây dựng tu bổ công trình cấp nước sạch từ nguồn vốn ưu đãi của Chính Phủ, lồng ghép với các công trình mục tiêu khác. Đồng thời huy động các nguồn vốn nhằm đem lại lợi ích và an sinh XH cho người dân.

     – Gắn việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở với việc lập kế hoạch triển khai, thực hiện, quản lý, duy tu, bảo dưỡng và giám  sát xây dựng công trình theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và được hưởng lợi”.

b. Khuyến nghị

+ Đối với ủy ban xã.

     –  Đảng ủy- HĐND, UBND xã quan tâm hơn nữa đến việc chỉ đạo HTX và có chủ trương biện pháp phối hợp với các ban ngành, đoàn thể và HTX trong việc tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt nội quy quản lý sử dụng nước.

     – Áp dụng giá thu tiền nước hợp lý vừa đúng quy định của UBND tỉnh, vừa phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của nhân dân.

     – Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo duc nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, thực hiện tốt quy chế quản lý, vận hành, bảo vệ và sử dụng nước sạch.

     – Kiểm tra, đánh giá, tuyên dương nhức những trường hợp có ý tốt trong việc sử dụng và bảo vệ nước sạch. Bên cạnh đó sử lý  nghiêm những hành vi vi phạm.

     –  Mở mang công trình đáp ứng nhu cầu của người dân

     – Ban quản trị HTX cần nghiên cứu, sửa đổi quy chế hoạt động sao cho phù hợp với công việc trong giai đoạn hiện nay.

     – Phân công công việc cho từng thành viên trong HTX sao cho phù hợp

     –  Ban quản trị HTX và các thành viên cần không ngừng nâng cao nhận thức về chuyên môn, tham gia các lớp tập huấn đầy đủ.

    – Ban quản trị cần duy trì tốt chế độ giao ban tuần, tháng, quý. Tổ chức hội nghị tổng kết hàng năm để đanh giá hoạt động của HTX.

     – Tranh thủ sự hỗ trợ của cấp trên về chuyên môn, nghiệp vụ và kinh phí.

     – Kiểm tra định kì nguồn nước để đảm bảo nguồn nước hợp vệ sinh.

+ Đối với nhân dân:

      – Tuyên truyền giáo dục đến học sinh phải có ý thức trách nhiệm bảo vệ  công trình đầu nguồn, nhất là khu vực xử lý và cầu cáp treo ống.

      –  Người dân cần nâng cao ý thức, trách nhiệm của mình để bảo vệ và sử dụng tiết kiệm nguồn nước sinh hoạt.

      – Chấp hành mọi quy định của UBND xã về việc nguồn nước sạch. Không đập phá làm hỏng công trình.

      – Người dân nên xây các bể chứa nước nhằm trữ nước sinh hoạt đảm bảo không bị thiếu nước sinh hoạt trong giờ cao điểm.

2.3.2. Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao công tác vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên.

a. Giải pháp:

– Đẩy mạnh các hoạt động thông tin giáo dục, truyền thông bằng nhiều hình thức khác nhau về vấn đề vệ sinh môi trường.

– Gắn nội dung bảo vệ môi trường nông thôn với công tác xây dựng, củng cố tổ chức HTX và phong trào nông dân phát triển kinh tế- xã hội. Xây dựng đời sống văn hóa, sức khỏe ở địa phương với các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo vệ an ninh quốc phòng.

– Chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp với các cơ quan chuyên môn, các nhà khoa học, tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp ưu tiên, góp phần giảm thiểu ô nhiễm, ngăn ngừa và hạn chế tốc độ ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên nông thôn.

– Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, phát hiện và xây dựng nhiều mô hình tại chỗ, tạo điều kiện cho các hộ khác đến tham quan, trao đổi hoc hỏi và chia sẻ thông tin, phổ biến kinh nghiệm và nhân rộng.

– Thường xuyên vận động, hướng dẫn người dân thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hóa “ ăn sạch, ở sạch, uống sạch”, mỗi người có ý thức giữ gìn vệ sinh gia đình và nơi công cộng, duy trì các phong trào dọn vệ sinh, khơi thông cống dãnh, thu gom, xử lý rác thải trong tuần.

b. Khuyến nghị:

 Khuyến nghị đối với lãnh đạo địa phương:

– Ở xã phải có cơ sở xử lý các chất thải nguy hại:

+ Phải xử lý các chất thải nguy hại theo quy định.

+ Cơ sở xử lý chất thải nguy hại phải đảm bảo khoảng cách an toàn xa khu dân cư, khu bảo tồn thiên nhiên. Phải được thiết kế xây dựng  theo đúng yêu cầu kỹ thuật và quá trình công nghệ => đảm bảo xử lý chất thải nguy hại đạt tiêu chuẩn.

+ Chất thải nguy hại trước và sau xử lý phải được lưu trữ trong thiết bị chuyên dụng phù hợp. Cơ sở phải đảm bảo an toàn cho sức khỏe và tính mạng của người lao động.

– Phát động phong trào hàng tuần bà con quét dọn đường làng, ngõ xóm.

– Xã nên khuyến khích cộng đồng dân cư thành lập tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường nơi mình sống, nhằm thực hiện các nhiêm vụ:

+ Kiểm tra đôn đốc các hộ gia đình, cá nhân thực hiện quy định giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường.

+ Tổ chức thu gom tập kết và xử lý rác thải, chất thải

– Các hộ dân cần có công trình chăn nuôi hợp vệ sinh, chất thải phải được xử lý phù hợp, đối với các hộ chăn nuôi có quy mô lớn thì nên xây dựng công trình bioga.

– Thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền về vấn đề bảo vệ môi trường cho người dân

– Hướng dẫn người dân xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh theo các nguyên tắc sau:

+ Không làm nhiễm bẩn đất xung quanh.

+ Không làm nhiễm bẩn các nguồn nước dùng để ăn uống, sinh hoạt.

+ Đảm bảo không có mùi hôi.

+ Không để ruồi muỗi tiếp xúc với phân.

+ Vị trí của bể chứa phải xử lý đơn giản, giá thành thấp.

      + Dễ sử dụng, bảo quản và sửa chữa.

– Tổ chức cho nhân dân, cán bộ tham gia các lớp tập huấn, kỹ thuật và quy trình canh tác bằng phân hữu cơ, phân vi sinh, kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh bằng thuốc sinh học, hoàn toàn không sử dụng hóa chất. Cây trồng sinh trưởng tốt, ít sâu bệnh, cho năng suất cao, đặc biệt sản phẩm thu được đều là nông sản siêu sạch, chất lượng cao, môi trường sinh thái được cải thiện. Người dân tránh được hóa chất độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

*Giới thiệu một số loại nhà tiêu hợp vệ sinh:

1. Hố tiêu thấm dội nước.

Đây là hố tiêu tự thấm dội nước được áp dụng ở nước ta vài năm gần đây. Tổ chức UNISEF đã tài trợ cho một số địa phương xây dựng kiểu hố tiêu này.

Cấu tạo gồm:   + Một bệ hố tiêu.

+ Môt xi- phông cổ ngỗng để tạo nút nước.

+ Một ống dẫn chữ Y ngược.

+ Bể tự thấm có nắp kín ( có thể xây 1 hoặc 2 bể để sử dụng luân phiên).

+ Khung nhà tiêu.

+ Bể chứa nước để dội sau khi đi tiêu.

Sau khi đi tiêu xong thì dội nước ( khoảng 2 lít nước cho một lần) phân sẽ trôi xuống bể chứa, tại xi- phông có nút nước ngăn mùi hôi. Có hai bể chứa dùng thay  nhau lần lượt trong thời gian từ 6 => 24 tháng. Hai bể chứa xây không bịt đáy, thành bể có các ô trống để nó có thể thấm qua thành bể và ngoài đất. Khi ngăn một đầy có thể sử dụng ngăn hai.

Bể thấm phải xây cách xa nguồn nước ngầm từ 1.5 => 3m, cách nguồn nước mặt từ 10 => 15m theo cấu tạo từng loại đất.

Bảo quản và sử dụng:

– Phải dội đủ 2 lít nước sau mỗi lần đi tiêu

– Không bỏ giấy vào lỗ bệ tiêu.

– Khi bị tắc dùng áp lực nước mạnh để thông, không dùng que sắt để thông thường vì có thể làm vỡ nút nước.

– Hai nắp bể luôn được trát kín.

– Không được sử dụng mùn cặn trước thời gian phân hủy quy định.

Ưu điểm: Không gây ô nhiễm đất, nước, không khí, tốn ít nước dội, có thể xây gần nhà hoặc ngay trong nhà, dễ sử dụng và bảo quản.

Nhược điểm: Giá thành cao.

2. Hố tiêu hai ngăn.

Hố tiêu hai ngăn được gọi là “hố tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ”.

Nguyên tắc: Ủ phân tại chỗ, một ngăn đi va một ngăn ủ phân, luân phiên nhau khi ngăn đi đã được dầy thì được ủ kín ngay tại chỗ, các mâm bệnh sẽ bị tiêu diệt sau 60 ngày trở đi, các chất hữu cơ cũng phân hủy. Nó có đường hứng rừng, không được lẫn vi phân.

Bảo quản và sử dụng:

+ Chỉ được sử dụng một  ngăn còn ngăn kia để ủ phân.

+ Cần giữ cho hố tiêu kín, khô, tối, cho nên không được dội nước.

+ Sau khi đi xong, đổ cho bếp hoặc tro rác lấp phân để tránh mùi hôi thối và tăng nhiệt độ ủ phân cho phân chóng phân hủy.

+ Đảm bảo thời gian ủ phân 60 ngày.

Ưu điểm: Giá thành thấp, dễ làm, có phân ủ bón ruộng hợp vệ sinh.

Nhược điểm: Có mùi hôi thối nhất là mùa hè, không xây dựng được ở vung đất trũng, cần có chất độn tro thường xuyên.

Nếu không sử dụng và bảo quản đúng cách thì hố tiêu hai ngăn sẽ trở nên như hố tiêu thùng rất mất vệ sinh, không có khả năng ủ phân kín tại chỗ, vì vậy khó dùng khiểu hố tiêu na ở những nơi công cộng như trường học, chợ, bến xe…

3. Hố tiêu đào.

Loại này sử dụng ở những vùng núi cao, đất rộng, dân không ở tập trung, không có tập quán sử dụng phân làm phân bón.

Cấu tạo gồm hai phần:

+ Hố chứa phân: được đào sâu xuống đất, không cần xây.

+ Phần nhà tiêu làm bằng các nguyên liệu địa phương.

Sau mỗi lần đi tiêu dùng tro bếp hoặc đất bột để phủ lên đất rồi đậy nắp lại. Khi hố chứa phân đầy thì lấp kín nà đào hố ở chỗ khác.

4. Hố tiêu tự hoại.

Ưu điểm: sạch, không có mùi hôi thối, không hấp dẫn côn trùng, không làm nhiễm bẩn môi trương xung quanh.

Nhược điểm: Giá thành cao, tốn nước dội, khó sửa chữa, bảo quản.

5.Bể khí sinh vật biogas.

Ưu điểm: giải quyết được phân người, phân gia xúc, rác thải, thu được khí đốt CH4 dùng thắp sáng bóng điện, đun nấu thức ăn… ở những nơi chưa có năng lượng điện.

Cấu tạo:

+ Bộ phận nạp nguyên liệu là nơi nạp các loại phân người, phân súc vật và rác bẩn.

+ Bể tiêu hóa là nơi xẩy ra quá trình phân hủy các chất hữu cơ tạo khí đốt và tiêu diệt mầm bệnh, trứng giun sán.

+ Bộ phân thu chất thải từ bể tiêu hóa. Sau khi phân hủy dịch phân hủy sẽ được chuyển sang bể này, chất lỏng ở bể này hoàn toàn vô hại,   có thể làm phân bón tưới cây.

+  Bộ phận thu và sử dụng khí.

Quá trình hoạt động bể khí sinh vật như sau: sau khi nạp nguyên  liệu ( phân người, phân súc vật, rác bẩn) tại bể tiêu hóa xảy ra quá trình phân hủy chất hữu cơ sinh khí nhờ các loại vi khuẩn hoại sinh yếm khí, đồng thời trứng giun sán, các vi khuẩn gây bệnh bị tiêu diệt Lượng khí đốt tạo ra phụ tuộc vao phân, rác, nhiệt độ mổi trường, độ PH.

Nhược điểm: Chi phí xây dựng cao, sử dụng khó, cần được trông nom, bảo quản tốt đúng kỹ thuật.

Khuyến nghị với người dân :

Thường xuyên vệ sinh nơi ở, khu chăn nuôi đảm bảo khô dáo sạch sẽ tránh sự phát sinh của dịch bệnh.

Rác thải phải được thu gom đúng nơi quy định, không vứt bừa bãi ra môi trường xung quanh.

Không được tự ý xử lý các chất thải nguy hại.

Tham gia các lớp tập huấn về vệ sinh môi trường để nâng cao sự hiểu biết của mình về vai trò của môi trường sống xung quanh.

 

 

PHẦN 3: KẾT LUẬN

Nước sạch cũng như vấn đề vệ sinh môi trường là một vấn đề quan trọng trong cuộc sống,sinh hoạt,sản xuất. Nếu thiếu nước sạch và môi trường bị ô nhiễm  thì cuộc sống của con người sẽ ra sao? Đây chính là điều mà chính bản thân tôi cũng như nhóm đề tài của tôi lo lắng cho cuộc sống của những con người lương thiện, hiếu khách qua chuyến đi thực tế ở xã Mỹ Yên.
Đây là vùng núi cao nên có được nguồn nước sạch là vô cùng quan trọng nhưng làm cách nào để bảo vệ và sử dụng hợp lý mói là điều quan trọng.
Chính vì người dân nơi đây chưa có nhiều kiến thức về vệ sinh môi trường nên nhiều hộ dân đã tùy tiện vứt rác không đúng nơi quy định, gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước và cũng là nơi trú ngụ của vi trùng gây bệnh làm hại chính sức khỏe của họ. Để khắc phục tình hình trên và nâng cao hiểu biết cho người dân về ô nhiễm môi trường, các cấp ủy, ban lãnh đạo xã, thôn đã tuyên truyền cho người dân. Xong tình trạng vẫn tiếp diễn xảy ra, chúng tôi mong các ban ngành đoàn thể xã Mỹ Yên quan tâm hơn nữa tới vấn đề trên.
Qua chuyến thực tế này, lớp KHQL- K8 nói chung cũng như các thành viên nhóm DT8 với đề tài ” Tìm hiểu công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” nói riêng đã hiểu được phần nào sự khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt của những người dân miền núi xã Mỹ Yên- một vùng đặc biệt khó khăn của huyện Đại Từ. Từ đó, bày tỏ được thái độ nguyện vọng và những kiến nghị đối với người dân và các cấp chính quyền với mong muốn mọi người có cuộc sống tốt đẹp hơn.

Lần đầu tiên đi thực tế chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm quý báu không chỉ trong học tập mà còn trong cuộc sống. Nó giúp chúng tôi gần gũi và hiểu nhau hơn. Cuối cùng chúng tôi xin trân thành cảm ơn nhà trường đã cho chúng tôi có chuyến đi này, các cấp ban ngành đoàn thể xã Mỹ Yên đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thanh tốt nhiệm vụ, cô Trần Thị Hồng đã hướng dẫn chúng em trong suốt thời gian qua.
            XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN! 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tham khảo

1. Vệ sinh môi trường và phòng bệnh ở nông thôn của thạc sĩ Y khoa Phạm Ngọc Quế. ( NXB nông nghiệp Hà Nội- 2004).

2. Phòng chống ô nhiễm đất  và nước ở nông thôn. ( NXB Lao động Hà Nội- 2006).

3.Luật môi trường (NXB Công an nhân dân Hà Nội – 2006).

4.Hiến Pháp 1992 nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

5. Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg, ngày 2-12-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

6.  Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25-6-1998.

7. Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững của Lê Huy Bá ( NXB Khoa học và kỹ thuật).

8. Từ điển Tiếng Việt ( NXB thanh niên).

 

Nhóm tác giả:

  1. Hoàng Văn Cường
  2. Lê Thu Hường
  3. Phạm Thị Len
  4. Kiều Thị Linh
  5. Nguyễn Thị Mai
  6. Lê Thị Mơ
  7. Dương Thị Ngọc
  8. Nguyễn Thị Ngọc
  9. Nguyễn Văn Hải
  10. Trần Mạnh Hải

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s